Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012

BÁN GỖ TRẮC TẠI HÀ TĨNH


mình tên Anh ở hà tĩnh. 

Ai cần mua gỗ TRẮC liên lạc với mình qua 

anhvan472@gmail.com

SĐT : 01642355683

 Giá cả thỏa thuận , Theo thị trường?

GỖ TRẮC 10 Khúc KHOẢNG 8-9 TẠ.
 2 BỘ CỬA CHÍNH , 1 BỘ CỦA SỔ.( khoảng 20 mạ lớn và 30 mạ nhỏ).

Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012

SỰ KẾT HỢP GIỮA CHÚA VÀ CON NGƯỜI LÀ '' NIỀM TIN ''


Thứ Năm, 26 tháng 7, 2012

TRẠI NUÔI DAM - NHÂN LỘC- CAN LỘC - HÀ TĨNH


                                                        CHỦ TRẠI DAM









                                            MÔ HINH TRẠI NUÔI DAM


Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012


TRÙM NOÃN
người có công xây dựng nên giáo xứ Tân Thành
Giáo xứ Tân Thành

1. Noãn, một trong hai lực điền cày ruộng cho gia đình tôi trước năm 1945. Anh ta người to con, mạnh khỏe, nhanh nhẹn, hơi lùn, môi dày, mắt sắc, và xếch. Miệng bằng tay, tay bằng miệng. Hay hài hước, nên ai cũng thích. Tôi còn nhớ, lúc tôi khoảng hai ba tuổi, có một hôm, tôi vòi mẹ tôi ăn đường, mẹ tôi đang bận việc nên gắt gỏng, Noãn thấy vậy đi lại gần tôi và bảo: “Cậu muốn ăn đường sao không hỏi tôi?” Tôi đưa con mắt ngơ ngác, khờ dại của một đứa trẻ nhìn Noãn, anh ta vẩy tay và vác cuốc đi trước, tôi theo sau, ra một con đường mòn, Noãn đào lên mấy hòn đất, bảo tôi, ăn đi,… đường đó!!!
Dĩ nhiên, một đứa trẻ như tôi không thú vị gì về sự hài hước độc ác như thế của Noãn, nhưng về sau khôn lớn, có chút suy nghĩ, tôi cho anh ta là một người thông minh, biết dùng “đồng âm”, “dị nghĩa” mà dựng nên câu chuyện hài hước.
Noãn, người Chợ Lù, cách làng tôi khoảng 8 cây số, về hướng Đông, thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Mồ côi cha mẹ từ thuở thơ ấu, một vị Thừa sai đem về rửa tội, ném vào một đồn điền nhà chung, chăn bò. Cha Già Hạp, thấy lanh lợi, đem về cho chăn bò và làm việc vặt trong nhà xứ. Khoảng năm 1941 hay 1942, trước khi về hưu tại Quảng Bình, cha già Hạp cưới vợ cho Noãn và làm một căn nhà cuối xóm, gần nhà tôi. Từ đó, Noãn trở nên một lực điền cày ruộng trong gia đình tôi.
Noãn, tính không thật, hay ăn trộm vặt, vì thế sau này ở làng tôi có câu thành ngữ áp đặt khắt khe lên cuộc đời của Noãn, “Trộm vặt như Noãn”. Mỗi lần Noãn nghe câu đó, anh ta cười hô hố để hóa giải câu áp đặt nghiệt ngã lên cuộc đời của anh. Tuy nhiên trước pháp luật, Noãn vẫn là người vô tội, vì chưa ai bắt được quả tang Noãn ăn trộm của ai?!
Một lần, vào một buổi tối, tôi còn nhớ ba tôi, tay cầm cái điếu thuốc lào, bằng ống tre, châm lửa, hít một hơi dài, nhả khói vào trần nhà, rồi chậm rải bảo hai chú lực điền:
- Hai chú ra bắt hai con gà trống lớn nhất, vào nhốt riêng, để sớm mai làm thịt đãi khách.
Má tôi ngồi bên, phản đối yếu ớt:
- Hai con gà để nó gáy sáng, sao làm thịt cả hai.
Ba tôi, giọng trịch thượng, tính ông cố hữu vẫn thế:
- Đã bảo làm, cứ làm đi…
Hai chú lực điền, mở cửa sau đi về hướng chuồng gà, chỉ một nháy mắt, Noãn ôm một chú gà trên cánh tay như người mẹ bồng con, con gà mắt lim dim như ngái ngủ. Còn chú lực điền kia, xách con gà trống lớn, hai chân ngược lên trời, gà kêu oang oác. Ba tôi nhìn hai chú lực điền và cười, Noãn hiểu ý, vái ba tôi một vái thật dài và nói:
- Con bắt gà nhà ai, nhưng chưa bao giờ và sẽ không bao giờ bắt gà của ông bà.
Ba tôi điềm đạm trả lời:
- Điều đó tôi đã biết, con người anh, là một dòng sông, bên trên mặt nước có những điều lắt léo, nhưng phía dưới là cái tâm, cuồn cuộn chảy xiết, một đường thẳng tắp, đẩy ra biển cả mênh mông.
Tôi nghĩ, Noãn không thể hiểu hết câu nói đó, nhưng hai con mắt anh ta sáng rực lên như hai dòng điện chạy qua. Có một điều tôi tin anh ta hiểu, câu nói đó như một giấy bảo đảm, anh ta sẽ mãi mãi là một lực điền trong gia đình tôi.
Rồi một ngày ba tôi vắng nhà, Noãn được chia công tác rửa khoai lang. Vùng tôi, nông nghiệp nghiệt ngã, vì đất đai và thời tiết, nên không “chuyên canh” mà là “tạp canh”, các mùa phụ công việc nhiều khi còn nặng nhọc hơn cả vụ mùa chính, khoai lang, một sản phẩm phụ của nông dân. Khoai được đào lên, gánh về, rửa sạch cắt ra từng nhát mỏng phơi khô, đó là thức ăn phụ trong những ngày tháng dài mùa Đông. Một phần dùng nuôi heo.
Noãn gánh khoai ra cái ao trước cánh đồng, anh ta nhặt những củ khoai lớn, dìm xuống bùn đáy ao, tối đến, cả xóm ngủ say, anh vớt lên, gánh về để đầy nhà. Một hôm, xui cho Noãn, chưa kịp lấy, có một nông dân đi bắt ếch, lội xuống ao, dậm phải mấy củ khoai, rồi vớt lên cả gánh khoai dưới đáy hồ. Người nông dân gọi mẹ tôi đến và bảo đây là khoai của bà bị ăn cắp. Sáng hôm sau, mẹ tôi gọi Noãn vào, tính công và từ đó anh ta không còn là một lực điền trong gia đình tôi nữa.
Mấy bữa sau, ba tôi về, ba tôi nói với mẹ tôi: Mấy củ khóai đáng gì mà phải làm đến thế, tuy nói vậy, tính ba tôi thâm trầm và dè dặt, việc gì đã qua, ông cho qua luôn, vả lại lúc bấy giờ, mẹ tôi là người lo toan, xếp đặt mọi việc trong gia đình chúng tôi…
Nhàn cư vi bất thiện, từ khi Noãn ở nhà, làng xóm bị mất trộm nhiều hơn, con gà, luống khoai, nhiều khi cả thúng lúa trong chum của một nông dân nghèo, ai cũng nghi cho Noãn, nhưng chưa ai bắt được quả tang.
Tuy nhiên, đi đêm thế nào cũng có ngày gặp ma. Hôm đó, cố Trí, tiên chỉ của xóm, ra thăm ruộng mạ lúc trời chập choạng tối, thấy Noãn vác bao bố vượt qua con đường cái quan, vào một ngõ tối và đi lên triền đồi, cố Trí theo bén gót, thấy Noãn vào một nương sắn nhổ trộm, cố Trí vào đánh thức vợ chồng chủ nhà dậy, căn dặn, đừng báo động sớm, để ông có thì giờ trở lại lối về của tên trộm. Quả nhiên, nửa giờ sau, vợ chồng chủ nhà tri hô lên, mọi người thắp đuốc, bắt trộm, Noãn từ hẻm tối chạy băng qua con đường cái quan, bị cố Trí chặn lại, và nói, về luộc sắn mà ăn, mai lên xóm làm việc.
Tuy chỉ mấy củ sắn, nhưng mọi người đã cho Noãn là đầu mối của các vụ mất trộm của xóm làng, nên anh ta phải nhận bản án quá nặng, đuổi khỏi làng từ hôm đó.
Noãn đi khỏi làng, gia nhập một toán ăn trộm làng bên, toán này cả thảy bảy người, nửa ăn trộm, nửa ăn cướp. Vào ăn trôm của nhà giàu, nếu bị phát giác, dùng cả vũ lực để lấy lúa gạo, có khi gây thương tích cho cả chủ nhà.
Một ngày, gia đình tôi đang có bữa tiệc đãi khách, Noãn xuất hiện, ba tôi gọi người làm bảo cho Noãn xuống nhà dưới ăn cơm và biếu gạo, nhưng Noãn không đi và muốn gặp ông chủ, ba tôi ôn tồn hỏi:
- Có gì không anh Noãn?
- Dạ, thưa ông chủ, tối mai, toán ăn trộm tám người sẽ vào nhà ông, con can mãi họ không nghe, mất dăm bảy bao lúa không sao, nhưng con sợ chúng làm ẩu, đụng đến ông và gia đình, nên con đến để báo với ông!
Mặt ba tôi trầm xuống, nhưng rất ôn tồn, nói hai chữ cám ơn rất nhỏ.
Một trong những thực khách hôm đó, Đội Châu, con rể của một ông bác họ, đi lính khố xanh trong tỉnh về nghĩ phép, sáng hôm sau, ông ta lên Huyện mướn một toán lính về bao vây, bắt cả tám người, trong đó có Noãn. Ba hôm sau, ba tôi lên Huyện để lãnh Noãn ra, nhưng mọi sự đã trể, cả toán bị giải lên tỉnh từ hôm trước.
Dạo đó cho đến mãi về sau, không ai nghe tin tức gì về Noãn nữa.
Sau năm 1945, nghe nói, Noãn đi bộ đội, rồi lại nghe tin đồn, Noãn, lúc ở tù, cùng giam chung với Lê Hồng Cơ, em họ Lê Hồng Phong, ông này dạy quốc ngữ cho Noãn, và truyền cho lý luận cách mạng, nên bây giờ là cán bộ tại Liên Khu Bốn, Thanh Hóa. Đây chỉ là tin đồn thôi, vì làng tôi chẳng ai gặp lại Noãn sau năm 1945.
2. Năm 2001, 46 năm, sau ngày tôi bỏ làng ra đi, 57 năm, sau khi Noãn bị bắt, tôi trở lại thăm Giáo xứ Tân Thành, Hà Tĩnh, tôi nghe Chú Khoa, người em họ cũng là ông Trùm của giáo xứ, nói đến một họ đạo mới, mang cái tên họ Chợ Lù. Người lập nên họ đạo mới là ông Trùm Noãn. Và được người ta kể lại phần hai cuộc đời ông Trùm Noãn như sau:
*
Sau những năm đi kháng chiến chống Tây, Noãn trở về hưu trí tại làng Chợ Lù, lúc này ông ta chửng chạc, rất có uy tín với cán bộ địa phương và dân chúng vùng này, Noãn mở một quán ăn bên quốc lộ số một, đầu làng.
Một buổi tối đang ngủ, trong một thị kiến, ông ta thấy một cụ già đến bên giường và đánh thức Noãn dậy, cụ già ôn tồn hỏi:
- Con còn nhớ ta không?
Noãn dụi hai con mắt một lúc, rồi nhận ra và nói:
- Thưa cha con nhớ ra rồi, ngày xưa con đi chăn bò của cha.
- Nhớ thì tốt, ông cụ nói thêm, ngày mai, cháu ta, một linh mục đói rét đi qua đây, con hãy cho cháu ta một bữa ăn!
Nói đến đó ông cụ biến mất, Noãn thức giấc giữa cơn bàng hoàng… Giấc mơ mà rõ ràng như giữa ban ngày.
Sáng hôm sau, Noãn giết một con gà, làm một bữa cơm và ngồi chờ. Mãi đến ba giờ chiều, một ông cụ mặc bộ áo nâu sồng, ngoài khoác một chiếc áo bông trấn thủ đã rách, chân đi dép, đầu đội chiếc nón cối bộ đội, vai mang một cái xắc mầu nâu thẩm, đi với ông, có một chú khoảng 17, 18 tuổi gánh hai cái tráp vuông nhỏ. Hai người mua hai bát nước chè nóng để uống.
Noãn bước ra vòng tay lễ phép thưa:
- Thưa bác, có phải bác là một linh mục không?
Ông cha do dự, nhưng cuối cùng phải xác nhận mình là một linh mục. Thời điểm này, tôn giáo đang ở thế rất lép vế, tìm ra một ông linh mục khó hơn tìm một hạt sương giữa buổi trưa hè oi ả. Một dãy hành lang từ cuối núi Hồng Lĩnh cho tới vùng sơn cước Hà Tĩnh, có bốn giáo xứ, Tiếp Võ, Cử Lâm, Tràng Đình và Tân Thành, chạy dài gần 30 cây số chỉ có một linh mục. Nhiều khi các giáo dân trong các họ đạo cũng chẳng biết mặt cha xứ, huống chi là người không phải Công Giáo.
Noãn ân cần, mời cha vào một căn phòng ấm cúng hơn và dọn bữa cơm lên bàn. Cha đứng dậy từ chối, và nói, chúng tôi chỉ mua hai bát chè tươi, uống cho đỡ lạnh, cơm tối chúng tôi sẽ đến giáo xứ Tân Thành và ông Trùm sẽ nấu cho chúng tôi.
Noãn nói:
- Thưa cha, bữa cơm này có người đặt nấu từ tối hôm qua.
Cha nghi ngờ và trả lời:
- Làm gì có, cả tháng nay tôi không liên lạc với ông Trùm xứ, chắc gì hôm nay ông biết tôi đến giúp giáo xứ?
- Thưa cha, người đặt bữa ăn này không phải ông Trùm hay bất cứ ai, mà chính cha già Hạp, trước năm 45, con chăn bò cho cha già. Hồi đêm, cha già về nói với con, cháu tôi, một linh mục sẽ đến quán này hôm nay, do đó con chờ cha từ sáng sớm.
Lúc này vị linh mục hoang mang đến cực độ, cha già Hạp, bác ruột ngài thiệt, nhưng đã chết từ năm 1946, lúc đó linh mục mới 7, 8 tuổi gì đó. Thị kiến nào, để một ông già không quen biết nói lên câu nói vừa rồi. Vị linh mục đành phải ngồi xuống ăn bữa ăn trong hoang mang với câu chuyện hoang đường mà ông chủ quán nói ra lúc vừa gặp gở. Tuy nhiên, trong bữa ăn, vị linh mục nhận thấy một tấm lòng chân thành và dễ mến nơi ông chủ quán. Cuối cùng, cả ba cha con đội trời mưa gió, đi về giáo xứ Tân Thành trong đêm hôm khuya khoắt.
Đêm hôm đó hai cha con tâm sự suốt cả đêm, ông Noãn thú nhận với vị linh mục, ông đã bỏ đạo mấy chục năm nay, ông muốn trở lại một tín đồ ngoan đạo. Vị linh mục nói, cái tâm của ông, đã gìn giữ ông không xa con suối ơn nghĩa Chúa trong suốt cuộc hành trình của đời ông. Lúc này là cơ hội cho ông hội nhập vào nguồn suối cứu độ, để đi vào biển hằng sống vĩnh cửu.
Giáo xứ Tân Thành lúc này, nhà thờ chỉ là túp lều lợp tranh, dựng lên trên nền nhà thờ cũ bị bom B52 tàn phá trong cuộc chiến vừa qua. Không phên, không tường, gió lồng bốn phía. Nhà xứ là một góc lều dúm dó, vây lại. Hai cha con ngồi bên bếp lửa suốt đêm, kể cho nhau nghe bàn chân đi giữa cuộc đời đầy hận thù và đầy yêu thương. Ở đâu có hận thù đến tàn phá, ở đó có tình thương đến bù đắp và xây dựng. Tình thương giống như những giọt nước tìm về, chảy xuống những chỗ trủng, khỏa lấp và san bằng… Hận thù mang cương tính, tình thương mang nhu tính, mới nghĩ tưởng là tương khắc nhau, nhưng cuối cùng là bù đắp cho nhau, như âm với dương, như cộng với trừ…
Ông Noãn ở lại tham gia tuần cấm phòng của giáo xứ. Suốt cả tuần lễ, những lúc rảnh rỗi, ông đi khắp vùng, để ghi nhớ lại những kỷ niệm thủơ thơ ấu. Ông đến viếng thăm mảnh vườn ông chủ mà ngày xưa Noãn là một lực điền cày ruộng. Ở đó, mảnh vườn rộng rãi giờ đây đã chia năm sẻ bảy cho các nông dân canh tác, duy chỉ còn cái bể cạn duy nhất còn đó, cái bể cạn mà ông đã kín hằng chục gánh nước đổ vào trong những đêm trăng mùa hè thanh tĩnh, một vài cây kè (tro) xác xơ tiêu điều còn đó. Noãn nghĩ đến gia đình ông chủ, bây giờ họ ở đâu? Những ai đã vĩnh viễn ra đi, những ai còn lại trên mặt đất, vinh quang hay tủi nhục, họ có nhớ đến chốn này năm xưa hay không? Có nhớ đến tên lực điền cày ruộng cho họ ngày xưa hay không? Cách mạng và đấu tranh, đổi thay được những gì cho con người nơi đây? Bát cơm sao mà hiếm thế? Bao tử trông nhỏ, sao mà lớn thế? Đổ vào mấy cũng chẳng bao giờ đầy.
Sau một tuần lễ, trong bữa ăn, gồm cha xứ, ông trùm, một số chức sắc của giáo xứ và một toán thanh niên trẻ, Noãn đề ra công tác xây đựng ngôi thánh đường mới, mọi người mĩm cười trong im lặng. Vị linh mục nghĩ, lại một câu chuyện hoang đường của ông già Noãn nữa đây. Thật vậy, không tiền bạc, không có vật liệu, dù là vật liệu xây cất tối thiểu, giáo dân sau chiến tranh, chỉ còn lại hai bàn tay trắng và những con mắt sâu hoẳm nhìn xuống và nhìn nhau, không có nổi hai bữa cơm khoai hằng ngày. Nói đến xây dựng thánh đường lúc này, là một câu chuyện hoang đường hơn câu chuyện thị kiến một ông già, đêm hôm khuya khắt, thức Noãn dậy xin một bữa ăn cho một linh mục qua đường! Nhưng cuối cùng, Noãn đã gieo vào lòng mọi người một tia hy vọng, nhất là đám thanh niên trẻ nhiệt thành. Và, thực ra, Noãn chỉ cần chừng đó thôi, Noãn nói: Làm nhà thờ, cần nhất là gỗ, con đã có trong tay, gỗ rất tốt. Mọi người ngơ ngác, anh ta giải thích, khoảng năm cây số phía Tây Nam của giáo xứ, trong dãy Rú Đò, có một khu rừng cấm của kiểm lâm, con đã có cách lấy được gỗ đó về làm nhà thờ, chỉ cho con một toán thanh niên nhỏ và nhanh nhẹn thôi. Con không đem gỗ về đây, con đã có chỗ dấu, chẳng những kiểm lâm mà mọi người không ai biết được. Đây là câu nói đốt cháy nhiệt tâm của toán thanh niên trong bữa ăn hôm đó. Bước thứ hai là tiền bạc mua vật liệu, con lo, con có cách lấy tiền của những cán bộ không Công Giáo về xây nhà thờ, bước thứ ba là giấy phép, con chạy được, câu chuyện hoang đường đã hình thành một ít hiện thực sau bữa ăn tối hôm đó.
Ba tháng sau, họ đã có gỗ đầy đủ xây cất nhà thờ, những toán thanh niên làm ban đêm, mọi sự chấm đứt trước 12 giờ trưa vì đó là giờ kiểm lâm đi khám xét, gỗ cắt xuống, xẻ ra, mang dìm xuống sâu trong những đầm nước và bùn ao tù rặc, chẳng những kiểm lâm, mà cả mọi người không ai ngờ dưới đầm bùn đó là gỗ để xây cất nhà thờ.
Có gỗ, bước thứ hai, Noãn về làng bán cái quán cơm, nhà cửa tài sản của Noãn, đem giao cho ông trùm cất giữ làm tin, sau đó Noãn ra Thanh Hoá, và cả Hà Nội, tìm bạn bè ngày còn kháng chiến chống Tây, bây giờ họ làm lớn và giàu có, ngửa tay mà cả cuộc đời Noãn chưa từng ngửa tay với ai, nhất là trong giai đoạn làm cán bộ cách mạng kháng chiến chống xâm lăng. Bạn bè không ai nỡ từ chối, vả lại, Noãn chả xin cho mình, mà xin cho một tôn giáo, dù là tôn giáo xa lạ với bạn bè. Noãn trở về cả một ba lô bạc và dúi vào tay ông trùm xứ. Bây giờ thì chẳng ai nói Noãn đang dẫn dắt họ đi trên con đường hoang tưởng nữa.
Bước thứ ba là giấy phép, tuy trông đơn giản nhưng nhiêu khê lắm. Giấy phép xây cất một nhà thờ trong một chế độ đang muốn triệt phá mọi nhà thờ, cái nghịch lý là ở chỗ đó. Cái đơn giản mà không đơn giản là ở chỗ đó. Ngôi nhà thờ cũ, bom B52 của Mỹ phá tan tành, nhưng thực tế đó là chiến lược trong chính sách triệt hạ giáo đường Công Giáo của chế độ, không có những đoàn xe 18 bánh của nhà binh đậu chung quanh nhà thờ, thì việc gì B52 của Mỹ trút bom xuống? Điều này một đứa lực điền cày ruộng ngày xưa còn hiểu được huống gì Noãn, ngày nay là một cán bộ cách mạng kỳ cựu chống xâm lăng?!! Nhưng Noãn khôn lắm, bao nhiêu năm đi làm cách mạng, cách mạng đã dạy Noãn, con người trong xã hội chủ nghĩa cũng chỉ là con người bình thường như Noãn, con người có tình cảm và cũng nhỏ những giọt nước mắt trước một nghịch cảnh như Noãn, có khác, tất cả chỉ là kịch sĩ, là diễn xuất của một kịch nghệ trên sân khấu. Nhưng đã đóng kịch thì tất phải có hồi hạ màn, và Noãn chờ lúc hạ màn, Noãn mới đến với họ.
Giấy phép của xã thì dễ, với uy tín của Noãn, qua cầu như đi tản bộ, ở huyện cũng chẳng có gì khó, quen biết và uy tín của một cán bộ kháng chiến chống Tây, họ không những là đàn em mà là con cái của mình trong cách mạng chống Thực dân Pháp. Đến tỉnh mới khó, lúc này Hà Tĩnh, Nghệ An còn chung làm một tỉnh. Tỉnh lị lại đóng tại thành phố Vinh, Nghệ An, rất xa lạ với mọi người.
Bước cuối cùng của cái giấy phép làm ngôi thánh đường, Noãn phải dùng đến cái trí đã học được trên con đường làm cán bộ cách mạng xa xưa. Bước đầu để cho mấy ông Trùm xứ, quê mùa đem lá đơn lên tỉnh xin gấy phép, họ lên tỉnh nhưng chỉ đến được vọng gác bên ngoài cửa ra vào, mấy ông già khúm núm vào vọng gác tưởng là chỗ nộp đơn nên đưa đơn ra, mấy chú lính canh thì tắc trách, thấy vậy nhận luôn những lá đơn, chẳng giải thích gì cả. Mấy ông già hăm hở ra về, tưởng là đã nộp được lá đơn rồi, hai tuần sau, Noãn bố trí một cán bộ huyện cùng đi hỏi về lá đơn xin làm nhà thờ giáo xứ Tân Thành, mấy ông già chỉ cho người cán bộ huyện chỗ nạp đơn, hởi ôi, đây chỉ là một trạm canh ở cổng cửa ra vào một công sở, mọi sự đã tạo thành câu chuyện cười ra nước mắt. Nhưng rất may, sau một hồi bới tìm trong tập giấy, lá đơn còn nằm đó, chỉ một chốc sau, câu chuyện hài hước đã truyền nhanh trong mọi phòng sở của tỉnh Nghệ Tĩnh, giữa lúc đó Noãn xuất hiện, xuất hiện như một người ngoài cuộc tình cờ vừa đến, Noãn hất hàm hỏi ông Tỉnh Ủy, ông nghĩ sao về mấy chức sắc giáo xứ Tân Thành xin giấy phép làm nhà thờ? Biết ông ta còn do dự, Noãn nói luôn, cho họ đi, Ông tỉnh ủy xem, mấy ông già quê mùa như thế, nạp lá đơn còn nộp ở cổng gác, gỗ không có, tiền không có, họ làm được bao nhiêu cái nhà thờ? Ông không cho thì mất mặt với chữ ký từ xã đến Huyện của địa phương, ông cho, nhà thờ cũng chẳng làm được mà địa phương lại biết ơn Tỉnh Ủy. Thấy Noãn nói có lý, và như thế bước thứ ba Noãn đã qua cầu. Hai năm sau nhà thờ Tân Thành được hoàn tất như một phép lạ do bàn tay đạo diễn của ông Noãn. Chưa hết, vật liệu dư thừa Noãn còn xây một nhà xứ cho cha có chỗ đi và về mỗi lần thăm viếng giáo đoàn.
Trong thời gian làm nhà thờ giáo xứ Tân Thành, Noãn khám phá ra một ngọn đồi mà thủơ nhỏ anh chăn bò, hãy còn bỏ hoang, đất đai phì nhiêu, anh lên huyện xin lập một khu di dân, anh về làng Chợ Lù, tìm những gia đình nghèo, cần cù nhưng vẫn không thể nào vượt qua được hoàn cảnh nghiệt ngã, Noãn giúp đỡ di cư lên ngọn đồi lập nghiệp. Hầu hết sau này họ theo Công Giáo và lập nên một họ đạo của xứ Tân Thành, Noãn là ông Trùm đầu tiên của họ đạo này.
Một ngày, Trùm Noãn nằm xuống và không có cơ may trở dậy nữa, cha xứ nghe tin, đưa Mình Thánh Chúa đến, cho ông Trùm Noãn chịu các phép cuối cùng của một tín đồ Thiên Chúa Giáo. Linh mục nắm bàn tay khẳng khiu của Trùm Noãn và nói:
- Ông Trùm, tôi nghĩ, ông đã biết, nhưng tôi phải nhắc lại. Ngày xưa, trong một thị kiến, một cụ già đến đánh thức ông trùm dậy trong đêm hôm khuya khoắt, để ông sửa soạn một bữa ăn cho một linh mục qua đường. Thật sự không phải bữa cơm gà ông cho tôi ăn hôm ấy, bữa ăn của ông là ngôi thánh đường ông đã bỏ tâm huyết xây đựng nên, kể cả những phiến gỗ ông lấy trộm từ khu rừng cấm Kiểm Lâm, những mánh khóe lúc ngồi rình sau hè người hàng xóm để bắt trộm một con gà, ông đã đem ra áp dụng tại tòa hành chính tỉnh Nghệ An, để vận động cho giáo xứ Tân Thành một giấy phép xây đựng ngôi thánh đường, ngôi nhà xứ tôi đang ở, họ đạo nơi đây, trên 400 bổn đạo đang hướng về ông như một cái tim của ngọn đèn đang cháy. Xa hơn nữa, cuộc sống canh tân và hoà giải cả cuộc đời ông. Tất cả, tất cả là bữa ăn của ông đã dọn ra cho bổn đạo vùng này, nối tiếp công cuộc của Đấng Cứu Thế mấy ngàn năm trước đây. Những gì ông làm, là điều mà trong sách vở gọi là công việc tông đồ giáo dân…
“Hòn đá người thợ loại bỏ ra, sẽ trở nên viên đá của góc tường xây đựng tòa nhà Giáo Hội”. Ông chính là viên đá người thợ đã loại ra.
Có một người nói với tôi, mấy chục năm về trước, khi ông còn là một lực điền cày ruộng cho một ông chủ, ông ta đã có nói với ông: “Cuộc đời anh là cả một dòng sông, phía mặt nổi có những lắt léo của cuộc đời, nhưng phía đưới là một nguồn lực của lương tâm, cuồn cuộn chảy ra biển cả mênh mông!!!”. Tôi muốn nói thêm vào đó một chút, không phải chỉ có nguồn lực lương tâm của ông mới chảy vào biển cả mênh mông, mà những lắt léo bên trên mặt nước cuộc đời của ông cũng chảy vào chốn mênh mông vĩnh hằng. Ta nhân danh Thiên Chúa, mọi lắt léo của ông ở trần gian, Chúa đã tha thứ và ông sẽ mang những thứ ấy đến trình điện Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ nhận lấy mặt đáy của dòng sông cũng như Thiên Chúa vui vẻ nhận lấy mặt nổi của cuộc đời ông. Chúa không đến với kẻ công chính, mà đến với người tội lỗi, ngày xưa Chúa đã ngồi ăn với kẻ thâu thuế. Ông là kẻ thâu thuế của thời đại hôm nay, Chúa đã dành cho ông một chỗ trong bữa tiệc hằng sống, hãy đến dự bữa ăn với Đấng Toàn Năng. Chúng ta sẽ gặp nhau ở chốn vĩnh hằng vào một ngày gần đây.
Bàn tay ông Trùm tìm bàn tay vị linh mục và hai giọt nước mắt chảy xuống trên gò má nhăn nheo của ông Trùm họ đạo.
Mấy ngày sau, Ông Trùm Noãn thanh thản ra đi, giữa sự thương tiếc của giáo dân và họ đạo. Trên ba ngàn giáo dân đưa linh cửu ông Trùm về lại ngôi thánh đường do ông bỏ tâm huyết xây dựng nên, trên một chục linh mục cử hành thánh lễ, rồi người ta đưa ông trở lại mảnh đất của họ đạo Chợ Lù, để ông an nghỉ ngàn năm. Cái nhà ông ở, bây giờ trở thành ngôi nhà nguyện cho họ đạo Chợ Lù, ước mong cuối cùng của ông là trên mảnh đất ông ở, sẽ có một nguyện đường nho nhỏ cho họ đạo tụ tập đến nguyện kinh buổi sáng và buổi chiều khi mặt trời khuất trên ngọn đồi phía Tây của giáo họ.
3. Trên đường trở về Hoa Kỳ, tôi nhớ đến cậu bé Noãn mồ côi cha mẹ, một chú tiểu chăn bò trong một đồn điền nhà chung, một lực điền trong một gia đình phú địa, một nông dân ngồi sau hè rình bắt con gà mái ấp của bác hàng xóm, một cán bộ cách mạng dũng cảm chống Thực Dân, Một ông trùm họ đạo xã thân làm việc tông đồ giáo dân, tất cả, đó là mặt tầng và đáy tầng của một dòng sông chảy ra biển cả mênh mông, vĩnh hằng. Tất cả được “Create” bởi bàn tay Thiên Chúa, và những gì Thiên Chúa đã làm ra, con người không thể đổi thay hay thay đổi. Tuy nhiên, cái tâm con người mới quyết định tất cả. Tâm con người là con đường duy nhất đưa đến cứu rỗi cho mỗi người, mỗi cá nhân, dù ở một tôn giáo nào cũng không ra khỏi quy luật đó. Cả cuộc đời ông Trùm Noãn đã biến những việc làm nhỏ bé thành những công việc vĩ đại, biến những việc làm mà thế gian cho rằng tội lỗi thành những việc làm tất nhiên của lương tâm. Tất cả do cái tâm thúc đẩy bởi dòng sông cuộc đời của ông Trùm Noãn.
Cho đến lúc này, ngồi viết cuộc đời ông Trùm Noãn, bao nhiêu câu hỏi đến với tôi vẫn tồn đọng, chưa được giải đáp thanh thỏa. Một trong hằng ngàn đứa trẻ mồ côi, ở một xã hội nông nghiệp lạc hậu của chế độ nô lệ, Noãn được một vị thừa sai, nhặt ra, đem về rửa tội, ném vào một đồn điền nhà chung, chăn bò. Cái lối truyền giáo, nửa Thực Dân, nửa Tông Đồ, của một ông cố Đạo như thế, thử hỏi, lúc nào và ở đâu, mầm mống đức tin quyết liệt, nhiệm nhặt gieo vào con người ông Trùm Noãn, để đến khi buông tay cuộc đời, có đến ba ngàn người thương tiếc tiễn đưa?! Câu thành ngữ áp đặt lên cuộc đời ông Trùm Noãn, “Trộm vặt như Noãn” tự đâu mà có? Tự bẩm sinh con người sinh ra hay do sự chèn ép trong một xã hội nửa Phong Kiến nửa Thực Dân?! Mấy củ khoai đạp xuống bùn, đáy ao, để mất việc, một công việc nửa nô lệ nửa làm thuê, phải chăng đây là động lực thúc đẩy Noãn ngồi sau hè bác hàng xóm bắt một con gà mái ấp?!
Đọc đến đây, độc giả đừng nghĩ tôi đang làm một công tố viện, buộc tội ba má tôi? Không, không bao giờ, tôi sinh ra trong một gia đình Khổng Mạnh! Tôi muốn làm rõ ràng cái gì đã xẩy ra trong thế kỷ 20, thế kỷ mà tôi đã bỏ hầu như trọn vẹn cuộc đời đầu tư vào đó, nhưng cuối đời vẫn nhận thấy lắm điều còn thao thức, chưa phân minh!
Một vài củ sắn, trong cái bao bố làm tang chứng, Noãn phải đuổi khỏi làng ra nhập vào toán trộm cắp, vì sống trong một xã hội “Phép vua thua lệ làng”. Chịu một bản án do định kiến hơn là tội phạm, thế mà anh đã cố đứng thẳng con người lên, trở về báo cho ông chủ đuổi việc, tối nay, toán cướp sẽ đến nhà ông! Cả cuộc đời từ thơ ấu đến lúc trở nên một lực điền, lúc nào và ở đâu, ai dạy Noãn, đứng lên làm con người ngay thẳng giữa những con người định kiến?! Một thị kiến vu vơ, hoang đường trong một giấc ngủ, Noãn đã cởi bỏ chiếc áo huy hoàng phù du của một chiến sĩ cách mạng chống xâm lăng, trở về, làm một ông trùm họ đạo, giúp đỡ bao nông dân, nghèo khổ, lầm than, để mọi người trong họ đạo nhìn Trùm Noãn như một tim đèn soi sáng cho cả họ đạo trong đêm tối chơ vơ, lạnh lùng! Đem mánh khoé một tên đạo chích ăn cắp gỗ kiểm lâm trên rừng về xây dựng nhà thờ. Có bột mới gột thành hồ, đàng này, Noãn không có bột mà chẳng những làm nên hồ, mà còn làm thành nồi cơm cho Giáo Hội và cộng đoàn giáo xứ Tân Thành! Noãn, con người, một tay “lựa gió phất cờ”, tay khác, đứng lên đổi hướng đi tới làm một con người công chính giữa một xã hội loài người tha hoá, trước khi làm một ông thánh bà thánh ở chốn Vĩnh hằng! Vì đâu?! Vì đâu mà có cuộc đời như Trùm Noãn?!
Khi ngồi viết câu chuyện ông Trùm Noãn, tôi không hề viết cho ông, vì lúc này ở một nơi nào đó, ông Trùm Noãn cũng chẳng cần thiết ai viết và viết những gì về cuộc đời ông! Viết cho tôi? Cũng chẳng cần thiết, vì chẳng còn bao lâu nữa tôi cũng sẽ ra đi và mong sẽ được đến nơi chốn mà ông Trùm Noãn đang thảnh thơi!!! Tôi chỉ muốn viết cho những thế hệ đến sau tôi, những thế hệ gọi là con cháu tôi, để họ biết rằng cha ông họ đã có những kiếp sống bất hạnh ở vào thế kỷ 20. Những danh từ nghiệt ngã như, nô lệ, thực dân, phong kiến, cách mạng, đấu tranh, chính trị, chủ nghĩa, ý thức hệ, chiến tranh… tất cả những danh từ nghiệt ngã đó như những thác nước trút ngập lên đầu chúng tôi, áp đặt lên cuộc đời bất hạnh chúng tôi, ở thế kỷ vừa mới qua đi của lịch sử nhân loại.

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

Giáo xứ Thọ Ninh


Nằm cạnh con sông La trữ tình và thơ mộng, Thọ Ninh hiện nay gồm các họ đạo: trị sở, Yên Phú, Yên Lĩnh, Yên Thượng. Với bề dày lịch sử trên 300 năm đón nhận Tin Mừng, Thọ Ninh là một trong những giáo xứ cổ kính nhất nhì Giáo phận, từng được chọn là nơi đặt trụ sở của các vị Giám mục phó của Giáo phận Tây Đàng Ngoài. Trong cung thánh nhà thờ Thọ Ninh còn lưu giữ hài cốt của hai vị Giám mục phó La Mothe Hậu I và Guérard Đoan.Mảnh đất Thọ Ninh bên cạnh dòng La Giang thơ mộng trữ tình là vùng “địa linh nhân kiệt”. Khí thiêng đã hun đúc nên những người con ưu tú của Giáo phận Vinh. Đây là nơi “chôn rau cắt rốn” của cha G.B Trần Thanh Ngoạn, F.X Võ Thanh Tâm, các linh mục dòng họ Vương Đình: Lm. Giuse Vương Đình Ái, Phi Khanh Vương Đình Khởi OFM, Antôn Vương Đình Tài CSsR, Duy Ân Vương Đình Lâm OC, Bảo Tịnh Vương Đình Bích; dòng họ Đậu với các linh mục: Phêrô Đậu Quang Lĩnh, Antôn Đậu Quang Hải, Phaolô Đậu Tiến Sỹ, Anton Đậu Quang Luật, Giuse Đậu Thanh Minh, chị Tổng phụ trách hội dòng MTG Vinh Anna Đậu Thị Nhung... Hiện nay có khoảng trên dưới 75 linh mục đang phục vụ trong, ngoài nước có nguồn gốc Thọ Ninh.

Lịch sử Giáo xứ Thọ Ninh
Lịch sử Giáo Hội thành lập hai Giáo phận tông tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài với hơn 350 năm thiết lập. Giáo Xứ Thọ Ninh cũng được vinh dự đón nhận Phúc Âm từ thời gian đó.
Hạt giống Lời Chúa do Cha Đắc Lộ (Alexanare Rhoder) và các thừa sai Dòng Tên gieo vãi từ miền bắc biển Cửa Lò, Cửa Hội (1629) đã sinh hoa kết quả và lan tràn nhanh chóng, chủ yếu đi ngược lên các dòng sông Xứ Nghệ.
Một sử liệu (1676) đã ghi tên Giáo Điểm Kẻ Thượng trong phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, bấy giờ chưa tách tỉnh Hà Tĩnh. Từ Kẻ Thượng thuộc thôn Trường Xuân, giáo điểm lạn rộng xuống Thọ Kỳ, có hai thôn đều thuộc xã An Việt Thượng, tổng An Việt, huyện La Sơn, phủ Đức Quang. Trong đó Thọ Kỳ gồm bốn nhóm : Thọ Tường, Thọ Ninh, Yên Phú, Yên Mỹ. Người công giáo tập trung chủ yếu tại Thọ Ninh, Yên Phú và rải rác tại Kẻ Thượng, Vân Hội thuộc Trường Xuân. Đơn vị Giáo xứ Thọ Kỳ bao gồm phía hữu ngạn Sông La từ họ Nghĩa Yên tới họ Tra cho đến năm 1943.

Từ năm 1796 – 1842 Thọ Kỳ là Tòa Giám mục phó Tây Đàng Ngoài từ Hà Nội vào tới Sông Danh.
Bốn Đức Giám mục phó đã sống tại Thọ Kỳ :
Đức Cha La Mothe Hậu (1796 – 1823) phong chức cho cha Phê rô Lê Tùy tại Thọ Kỳ, vị linh mục này chết vì đạo ngày 11/10/1833 tại Quán Bàu – Nghệ An.
Đức Cha Guerard Đoan (1816 – 1823) phong chức cho cha Phê rô Hoàng Khanh tại Thọ Kỳ năm 1819, vị linh mục này coi sóc Giáo xứ Thọ Kỳ một năm (1841) và chết vì đạo ngày 12/7/1842 tại Cồn Cồ, Hà Tĩnh.
Hài cốt của hai Đức cha được chôn tại Thọ Kỳ, được cải táng vào trong cung thánh nhà thờ Thọ Ninh.
Hai vị linh mục được phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988. Hài cốt Thánh Phê rô Lê Tùy hiện giữ tại nhà nguyện hội Thừa sai Pari, Hài cốt Thánh Phê rô Hoàng Khanh giữ tại Đền thờ Trung Hậu.
Hai Đức cha Ollivler Phan (1823 – 1825) và Havard Du (1822 – 1831) chỉ ở một thời gian ngắn tại Thọ Kỳ.
Đức cha Gouthier Ngô Gia Hậu II (1842 – 1877) di dời Tòa Giám mục từ Thọ Kỳ về Xã Đoài (1842) và từ năm 1846 Xã Đoài trở thành Tòa Giám mục chính vị của Giáo phận mới nằm đàng ngoài Vinh.
Lịch sử Giáo xứ Thọ Ninh, tên gọi mới của Thọ Kỳ từ đầu thế kỷ XX là một lịch sử đầy hồng ân, ngay cả trong bão tố của thử thách gian truân. Hồng ân của Giáo xứ Thọ Ninh là được Chúa ban cho nhiều ơn gọi Linh mục, Tu sỹ để phục vụ cho Giáo hội và xã hội.

Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012

ÐÔI NÉT VỀ GIÁO XỨ TRÀ KIỆU



ÐÔI NÉT VỀ GIÁO XỨ TRÀ KIỆU ( PHẦN TÓM LƯỢC )

I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

Trà Kiệu một giáo xứ bé nhỏ, ẩn mình ở chốn nông thôn rừng núi, nhưng là một Giáo xứ được Mẹ Maria che chở một cách đặc biệt. Trà Kiệu cũng là một Giáo xứ kỳ cựu nhất trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam.

Trước năm 1009 thì chính địa giới của Giáo Xứ Trà Kiệu ngày nay là Kinh Ðô của Vương Quốc Chămpa tức là Chiêm Thành, và được gọi là Sư Tử Thành (Simhapura). Sau năm 1009 thì Kinh Ðô Chiêm Chúa được dời vào Ðồ Bàn (Bình Ðịnh).

Do cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, nhất là từ năm 1470, sau cuộc bình Chiêm đại thắng của vua Lê Thánh Tông, dân tộc Việt Nam từ các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh... được khuyến khích di dân vào Nam để khai hoang vỡ hóa những vùng đất do Chiêm Thành để lại.

Và theo phả hệ của các chư tộc tại Trà Kiệu thì vào thời kỳ này (1470 - 1479) có 13 vị Thỉ Tổ theo bước chân Nam tiến của vua Lê, đã đưa vợ con gia đình vào vùng đất Chiêm Ðộng (tức vùng Trung huyện Duy Xuyên ngày nay) mà khai cơ thác thổ. Rồi sau đó lại có nhiều vị Thứ Thế Tiền Hiền vào đây tiếp tay khai phá và tạo nên một vùng đất canh tác bao la rộng lớn gần 2000 mẫu, nên sau đó mới phân cương định giới và lập xã hiệu là Trà Kiệu xã.

Ranh giới Trà Kiệu như sau:
- Nam khóa Tào sơn (Nam trùm núi Hòn Tàu)
- Bắc cự Sài thủy (Bắc đạp sông Chợ Củi (Câu Lâu)
- Ðông lâm Quế hạt (Ðông giáp khu đông Quế Sơn)
- Tây chấm Tùng sơn (Tây gối núi Dương Thông)

Ðến năm Thành Thái thứ 11 (1905) xã Trà Kiệu vì quá rộng lớn nên mới được chia ra làm 5 xã riêng biệt gồm có: Trà Kiệu Trung - Trà Kiệu Ðông - Trà Kiệu Nam - Trà Kiệu Tây - Trà Kiệu Thượng (gọi chung là ngũ Trà). Xã Trà Kiệu Thượng tức là xã dành cho anh em công giáo sống riêng ở trên Thành Chiêm (tức là Giáo Xứ Trà Kiệu ngày nay). Ðất đai tài sản của xã Trà Kiệu ngày trước được chia đều cho 5 xã theo số lượng nhân khẩu. Duy chỉ có nhà thờ tiên tổ (sau gọi là nhà thờ ngũ xã), và đất đai từ đường (7 mẫu, 3 sào) thì vẫn giữ nguyên để con cháu ngũ xã về niệm hương lễ bái công đức các bậc tiền bối nhân dịp xuân thu nhị kỳ...

Trải qua bao đời biến đổi, 4 xã Trà Kiệu Ðông, Trà Kiệu Nam, Trà Kiệu Trung và Trà Kiệu Tây, đã thay đổi tên hiệu, không còn gọi là Trà Kiệu nữa. Duy chỉ có xã Trà Kiệu Thượng (tức là Giáo xứ Trà Kiệu) thì cho đến nay vẫn còn giữ tên "Trà Kiệu" thuở ban đầu.

II. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO XỨ TRÀ KIỆU:

Giáo xứ Trà Kiệu cách Thành phố Ðà Nẵng chừng 40km về phía Tây Nam. Trên con đường xuyên Việt Bắc-Nam (quốc lộ số 1), khi đến trạm Nam Phước (tức Thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), rẽ về hướng Tây theo tỉnh lộ 610 (đường đi khu di tích Mỹ Sơn) chừng 7km, khách hành hương sẽ đến Giáo xứ Trà Kiệu hay còn gọi là Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu.

Giáo xứ Trà Kiệu tọa lạc trên một phần đất vuông vức, mỗi bề dài khoảng 1km, lại nằm giữa một cảnh quan thôn dã an bình và xinh đẹp. Vì trước đây Trà Kiệu là Kinh đô huy hoàng của Chiêm quốc với cảnh núi đồi sông nước rất nên thơ và tráng lệ.

"Ðiện các huy hoàng trong ánh nắng,
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh".

Thế nhưng hôm nay đền đài thành quách của Chiêm quốc đã điêu tàn đổ nát, một số nền móng lâu đài đã được Trường Viễn Ðông Bác Cổ khai quật, đào bới. Một số thành lũy đã đứt nối oằn oại dưới những ngôi nhà của cư dân.

Nếu thật chú ý chúng ta mới có thể nhận ra được một vài di tích còn sót lại nhưng không trọn vẹn, đó là:

- Ở phía Ðông Giáo xứ có hòn Bửu Châu (hay còn gọi là Non Trược, hay Non Trọc) mà người ta tin rằng đó là kỳ đài của kinh thành. Hòn Bửu Châu án ngữ ngay sau hậu cung của Chiêm Chúa. Ngày nay Hòn Bửu Châu đã trở thành Ðền Mẹ Trà Kiệu - Trung tâm Thánh Mẫu (Hoàng cung tọa lạc ở xóm Hoàng Châu, quay mặt về hướng Ðông).

- Ở phía Bắc là dãy thành đất chạy song song với con sông Thu Bồn, từ chân đồi Bửu Châu lên hướng Tây, đến chân núi Kim Sơn (Hòn Bằng) dài độ 1000 mét. Trên mặt thành đất này dân cư đã xây dựng nhà cửa và ngôi chợ Hàm Rồng ở vào khoảng giữa.

- Ở phía Tây có rặng đồi Kim Sơn và dãy thành lũy chạy dọc theo con suối Hố Diêu vào phía nam dài độ 500 mét. Dãy thành này hiện là khu nhà thờ, nhà xứ, cô nhi viện, Phước viện và cư dân.

- Ở phía Nam có dãy thành cao, rộng, chạy từ hướng Tây xuống hướng Ðông đến hồ Hoàng Châu, giáp với cổng thành phía Ðông. Dãy thành này dài trên một kilômét và hiện nay là khu dân cư thuộc phái nam của giáo xứ.

Tại giáo xứ Trà Kiệu hiện nay còn có một số địa danh quen thuộc, mà chúng ta cần biết đó là: Ðồi Bửu Châu, Ðồi Kim Sơn, Hàm Rồng, Hòn Gành, Bến Giá, Hòn Ấn...

* Bước đầu truyền giáo:

Hiện nay chúng ta không thể biết chính xác là vào thời điểm nào "Tin Mừng" được rao giảng tại Trà Kiệu, và vị giáo sĩ truyền giáo nào đã đặt chân đến Trà Kiệu trước tiên.

Theo một số sử gia thì trước khi các linh mục Dòng Tên do Cha Buzomi dẫn đầu, đến Hội An để chính thức tổ chức công cuộc truyền giáo ở Ðàng Trong (1615), thì đã có các linh mục dòng Phanxicô đến truyền giáo tại Hội An và các vùng phụ cận. Và sử liệu cũng có ghi là vào năm 1558, một linh mục dòng Phanxicô đã rửa tội cho bà chị quan trấn thủ Quảng Nam với thánh hiệu là Phanxica (Bà Phanxica là chị của quan trấn thủ Quảng Nam, là con của Chúa Nguyễn Hoàng). Một điều khác là sử liệu cũng cho chúng ta biết là Trà Kiệu đã được các Cha dòng Phanxicô cai quản cho đến khoảng năm 1810 mới bàn giao lại cho các Linh mục thừa sai Hội Truyền Giáo nước ngoài Ba-lê (MEP). Hơn nữa Hội An là cửa ngõ của Trà Kiệu, vì trước đây Hội An, Cửa Ðại (Chiêm) là cửa ra vào kinh đô Trà Kiệu của Vương Quốc Chàm (Champa). Cho mãi đến thời kỳ Chúa Nguyễn quản trấn Quảng Nam, thì Trà Kiệu vẫn là nơi giao lưu buôn bán phồn thịnh với Hội An nhờ dòng sông Thu Bồn, Bà Rén. Trà Kiệu còn là khu dân cư đông đúc trù phú nhất tỉnh (nhất Trà Kiệu, nhì La Qua, ba Tú Tràng...) là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh, là kinh đô của Chiêm quốc (Sư tử Thành) có phong cảnh nên thơ và trữ tình. Thuyền bè buôn bán, ngao du, từ Hội An lên Trà Kiệu, Thu Bồn rất tấp nập. Kể cả thuyền rồng của các Chúa Nguyễn cũng thường xuyên lên xuống, và thường ghé lại Trà Kiệu nên có địa danh "Bến giá" (để cho thuyền rồng nhà Chúa đậu lại).

Do hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi như thế, chúng ta có thể nghĩ rằng: Trà Kiệu đã được ghi vào lược đồ truyền giáo của các Linh mục dòng Phanxicô rất sớm. Ngoài Hội An và vùng phụ cận thì Trà Kiệu có thể là nơi các Linh mục dòng Phanxicô đặt chân lên sớm nhất. Tuy nhiên đây cũng là bước khởi đầu, chỉ có tính cách giao lưu thăm dò chưa được tổ chức chu đáo. Phải đợi cho đến khoảng năm 1628 - 1630 Tin Mừng mới được bén rể và phát triển tại Trà Kiệu. Giáo xứ sơ khai được hình thành, qua sự kiện một số gia đình con cháu trong xã (Trà Kiệu), lên sống riêng biệt ở trên Nội Thành Chiêm để tạo lập giáo đường mà đọc kinh cầu nguyện, không còn tham dự lễ bái ở Ðình thờ tổ tiên nữa.

* Giai đoạn từ 1630 đến 1862

- Thời gian thành lập Giáo xứ:

Về việc thành lập Giáo xứ Trà Kiệu, chúng tôi căn cứ vào một số tư liệu gần đây như tập "Nguyên Trà Kiệu ngũ xã phong tặng tiền hiền sự tích"... và một số tư liệu khác, thì Giáo xứ Trà Kiệu có thể được hình thành vào khoảng năm 1630.

Giai đoạn này cũng rất ít tư liệu và không rõ ràng, cho mãi đến năm 1862, là năm mà các sinh hoạt của Giáo xứ còn được lưu lại (như Sổ Rửa tội, bút tích của các Cha Quản xứ...)

Trước hết là tập "Nguyên Trà Kiệu ngũ xã phong tặng Tiền Hiền sự tích Chủ Văn bảng tổng hợp Nhất Quyển" được thiết lập vào năm Khải Ðịnh nhị niên (1917) tại Trà Kiệu ngũ xã, do Lý trưởng của 5 xã Trà Kiệu lúc bấy giờ (Trà Kiệu Thượng - Trung - Tây - Nam - Ðông) ký nhận và đóng dấu, được Chánh tổng Mậu Hòa Trung ký tên và đóng dấu xác thực, đồng thời được con cháu của các chư tộc ký nhận. Các bảng báo trình này đã được nhà vua (Khải Ðịnh) phê duyệt, và ban sắc phong công đức.

Nội dung tư liệu này có 2 phần:

- Phần đầu là phần do chính quyền sở tại Lý trưởng báo trình chung về công đức của các vị tiên tổ đã dày công khai hoang vỡ hóa, chiêu dân lập ấp, để xây dựng nên xã Trà Kiệu Thượng (tức Giáo xứ Trà Kiệu ngày nay). Theo bảng kê khai thì có 11 chư tộc, trong đó có 7 tộc tiền hiền từ thời Lê Hồng Ðức và 4 tộc hậu hiền từ thời Gia Long.

* 7 tộc tiên tổ thời Lê Hồng Ðức ghi theo thứ tự như sau:
1. Lưu Văn Tâm
2. Nguyễn Thanh Cảnh
3. Nguyễn Quang Hoa
4. Nguyễn Ðăng Ứng
5. Ðinh Công Triều
6. Lê Văn Càng
7. Nguyễn Viết Bỉnh
* 4 tộc hậu hiền từ thời Gia Long ghi theo thứ tự như sau:
8. Phạm cảnh Tộc
9. Nguyễn văn Tộc
10. Trần Tộc
11. Ðoàn công Tộc

Các vị tiền hiền hậu hiền Trà Kiệu Thượng đã khai canh khai khẩn được 221 mẫu ruộng, cả công tư điền thổ, và thứ thế sinh hạ nhơn đinh tráng lão 157 người.

- Trong phần thứ hai là 11 bảng kê khai công đức Tiền hiền và phả hệ chư tộc cũng như sinh hạ kế thế của 11 chư tộc kể trên. Các bảng kê khai này do chính con cháu trong tộc họ mình tự đứng ra kê khai.

Theo bản khai trình thì có 7 vị tộc tổ của xã Trà Kiệu Thượng (Giáo xứ Trà Kiệu) trong đó có 5 vị nguyên là con cháu của 13 vị thủy tổ khai cơ tiền hiền từ thời Hồng Ðức (Lê Thánh Tông, 1470 - 1479): Lưu Văn Tâm, Nguyễn Thanh Cảnh, Nguyễn Quang Hoa, Nguyễn Ðăng Ứng và Ðinh Công Triều. Họ là những người địa phương, đã định cư tại Trà Kiệu từ trước kia và nay vì theo đạo Chúa nên tách ra, lên ở riêng trên Nội Thành Chiêm.

Còn 2 vị tộc tổ Lê Văn Càng và Nguyễn Viết Bỉnh thì đã có đạo rồi nhưng ở nơi khác cùng đến (thời Lê Thần Tông) ở chung với 5 vị tổ mới theo đạo. Tất cả 7 vị đến lập cư tại Nội Thành Chiêm, cùng thuộc bổn xã Trà Kiệu, để sinh sống, xây dựng nguyện đường để đọc kinh cầu nguyện. Ðoạn văn trong tờ khai trình đã viết:

"Chi Lê Triều Thần Tông niên gian, dân xã chư tộc tiên tổ thủy tổ Lưu Văn Tâm, Nguyễn Thanh Cảnh, Nguyễn Quang Hoa, Nguyễn Ðăng Ứng, Ðinh Công Triều, Lê Văn Càng, Nguyễn Viết Bỉnh (do Lê văn, Nguyễn viết nguyên phụng Thiên Chúa giáo) tòng Thiên Chúa giáo, biệt lập giáo đường lễ sở tại bổn xã nội thành xứ:.

Nghĩa là: "Ðến đời Lê Thần Tông (1619 - 1643) có các tộc tổ của xã là: Lưu Văn Tâm, Nguyễn Thanh Cảnh, Nguyễn Quang Hoa, Nguyễn Ðăng Ứng, Ðinh Công Triều, Lê Văn Càng, Nguyễn Viết Bỉnh (vì Lê văn, Nguyễn viết nguyên đã thờ phụng Thiên Chúa) theo đạo Công Giáo, nên lên xây dựng Thánh đường riêng biệt để lễ bái, tại nội thành Chiêm, cùng thuộc bổn xã". Chữ "Tòng Thiên Chúa giáo" ở đây là dành riêng cho 5 vị ở trên.

Ðồng thời chúng tôi cũng sưu tìm được một trang thủ bút quý hiếm của Linh mục Lalanne (cố Lân), Cha quản xứ Trà Kiệu (từ năm 1922 - 1938) về việc chính thức công nhận các vị tiền hiền của Giáo xứ Trà Kiệu. Ðó là bản viết tay của Linh mục Joseph Lalanne, xác nhận về các vị "Tiền hiền làng Trà Kiệu", có chữ ký và con dấu của Lý trưởng Nguyễn Thanh Hương xác thực. Bản xác nhận này được viết vào ngày 2 tháng 7 năm 1925 tại Giáo xứ Trà Kiệu và có nội dung như sau: (xem thêm bản gốc)

"Tiền hiền làng Trà Kiệu là:

1. Lưu Văn Tâm.
2. Nguyễn Thanh Cảnh.
3. Nguyễn Quang Ba (Hoa).
4. Nguyễn Ðăng Ứng.
5. Ðinh Công Triều.
6. Lê Văn Càng.
7. Nguyễn Viết Bỉnh".

Các đấng ấy lập sở làng Trà Kiệu từ năm 1630 đến 1640 đời vua Lê Thần Tông (1619 - 1943). Nhà thờ trước hết được xây dựng ở vườn ông thầy Long, sau đời Ðức Cha Lợi làm Cha sở Giáo xứ Trà Kiệu thì dời qua chỗ đương còn...

Giáo xứ Trà Kiệu chắc chắn đã được rao giảng Tin Mừng trước khi các vị tiền bối của chúng ta lên ở riêng trên Nội thành Chiêm để giữ đạo (1630). Thời điểm rao giảng Tin Mừng ở Trà Kiệu chậm nhất cũng là vào thời kỳ 1615 đến 1628. Vì theo như Cha Ðắc Lộ (Alexandre de Rhode) cho biết thì vào năm 1625 việc rao giảng Tin Mừng đã được loan báo khắp các khu dân cư lớn ở xứ Nam. Cha ghi như sau: "Năm 1625 đạo Công Giáo được rao giảng khắp các xứ lớn ở miền Nam. Chúng tôi (Cha Ðắc Lộ) tất cả là 10 Cha Dòng. Công việc thật vất vả, nhưng chúng tôi không lấy gì làm nặng nhọc, vì Ðấng mà chúng tôi phụng sự đã nâng đỡ chúng tôi tỏ tường, giúp chúng tôi thu hoạch được những kết quả vượt khả năng và ước muốn của chúng tôi...

Sau khi 7 vị sáng lập Giáo xứ Trà Kiệu đã tách ra ở riêng trên nội thành Chiêm, thì công việc đầu tiên của các vị là xây dựng "Nhà nguyện" để cùng đọc kinh cầu nguyện chung với nhau. Chúng ta cũng không biết chính xác là nhà nguyện ban đầu này được xây dựng từ năm nào, nhưng theo ông Cao Ðức Phong (Câu kinh) thì đã quả quyết là "có từ lâu... và biết rõ một điều là nhà thờ đã có trước thời 1681 - 1682". Và cũng theo khẩu truyền, thì ngôi nhà nguyện đầu tiên này được xây dựng tại phái (khóm) Ðông trên khu đất vườn ông Trương Tạ, và hiện nay là khu vườn nhà ông thầy Long (Xem thêm phần Thánh đường Trà Kiệu).

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

NHÂN VẬT VÀ SỰ KIỆN


I. NHỮNG NHÂN VẬT TRỌNG YẾU TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM THÁNH MẪU TOÀN QUỐC LA VANG


1. ĐỨC CHA CASPAR LỘC – NGƯỜI VÉN BỨC MÀN BÍ MẬT LA VANG


Năm 1864, nhân chuyến công du về Pháp sau chỉ dụ tha tháp của vua Tự Đức, Đức cha Sohier Bình đã làm chủ lễ truyền chức Linh mục cho thầy Louis Caspar. Chính sự cảm phục các bậc đàn anh về sự gian nan và đổ máu mà Đức cha Sohier Bình là nhân chứng hùng hồn, đã quyết định phần lớn hướng đi Đàng Trong của thừa sai Louis Caspar.


Cha Louis Caspar sinh ngày 23.03.1841 tại Obernai, vùng Bas Rhin, gần biên giới Pháp Đức. Được cử sang Việt Nam, nhập địa phận Tây Đàng Trong ngày 15.02.1865, với tên Việt là Lộc.


Trong 15 năm ở địa phận Tây Đàng Trong, ngoài những trọng trách được giao phó: giáo sư chủng viện Lái Thiếu, bề trên trường Thầy Giảng..., ngài dành nhiều thời gian nghiên cứu đến thông thạo Việt ngữ và Hán, Nôm. Điều này giúp ích rất nhiều cho ngài trong suốt 26 năm lãnh đạo giáo phận Huế - một vùng đất bấy giờ Nho giáo đang chiếm lĩnh ảnh hưởng.


Năm 1880, ngài được Tòa thánh bổ nhiệm làm Giám mục ĐDTT giáo phận Bắc Đàng Trong, hiệu tòa Canathe. Lễ tấn phong tại Sài gòn ngày 24.08.1880. Đến Huế đầu tháng 09.1880.


Những năm đầu ở Huế, ngài không thể không chú ý đến một sự kiện được truyền tụng trong dân gian lương giáo: Sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại La Vang. Nhưng vốn bản tính khiêm cung, từ tốn ngài không thể không thận trọng về một sự kiện khó lòng kiểm chứng vì đã gần 100 năm trôi qua. Ngài chỉ âm thầm tìm hiểu, ghi nhận, và chủ định đề cao những giá trị tinh thần nhằm gia tăng lòng sùng kính Đức Mẹ nơi người giáo hữu.


Để phát huy lòng sùng kính Đức Mẹ La Vang, hơn ai hết ngài ủng hộ và ban phép lành cho những cuộc rước kiệu hằng năm từ Cổ Vưu vào La Vang do giáo xứ Cổ Vưu tổ chức, tiền thân của Đại Hội Hành Hương Đức Mẹ La Vang sau này.


Hơn hết, chính ngài đã quyết định xây dựng tại La Vang ngôi nhà thờ ngói dâng kính Đức Mẹ vào năm 1886. Chẳng may, giáo phận Huế lâm nạn Văn Thân, phải trễ mất 9 năm, 1894, mới khởi công được. Nhà thờ ngói đã hoàn tất vào năm 1900 – Năm khánh thành cũng là năm Đức cha ban hành định lệ "ba năng một lần kiệu trọng thể từ Cổ Vưu vào La Vang".


Kiệu trọng thể theo thời gian tuy có thay đổi về nghi thức và tổ chức, nhưng định lệ "ba năm một lần " vẫn được tôn trọng cho đến ngày nay.


Năm 1906 Đức cha Caspar tộc từ giã giáo phận Huế đi Rôma và được ĐGH ban phép về nghỉ dưỡng bệnh tại quê nhà. Ngài qua đời năm 1917.


2. ĐỨC CHA ALLYS LÝ – NGƯỜI XÂY ĐỀN NƠI HOANG ĐỊA


Đức cha Allys Lý là người có công rất lớn đưa giáo phận Huế tới thời kỳ phồn thịnh với phong trào tòng giáo đạt hiệu quả cao trong giới bình dân và hoàng tộc. Một hệ thống dòng tu phồn thịnh và một chương trình hiện đại hóa cơ sở vật chất cho giáo phận Huế, trong đó nổi bật là nhà thờ Phủ Cam, nhà thờ Phanxicô, Tòa Khâm Mạng và đền thờ Đức Mẹ La Vang - Một trong những công trình kiến trúc nhà thờ hàng đầu Việt Nam và Đông Dương hồi bấy giờ - Đã được ĐGH Gioan XXIII nâng lên bậc Vương Cung Thánh Đường vào năm 1961.


Nhưng tại sao lại phải xây dựng một ngôi đền thờ nguy nga nơi hoang địa, trong khi đó Tòa Giám Mục Huế đang là những dãy nhà ngói đơn sơ? Điều này chí có thể giải thích là do bởi lòng sùng kính Đức Mẹ La Vang và muốn những gì tốt nhất dành cho Mẹ.


Hơn thế nữa, Đức cha Allys Lý còn từng bước nâng thánh địa La Vang từ một điểm hành hương giáo hạt, giáo phận lên hàng toàn quốc. Theo đó:


- Ngài đã tổ chức thành công tất cả sáu kỳ Đại Hội La Vang, từ Đại Hội 4 (1910) đến Đại Hội 9 (1928).


- Từ Đại Hội 6 (1917), hành hương La Vang đã được cải cách từ một ngày lên ba ngày gọi là TAM NHẬT. Hai ngày đầu tổ chức tại La Vang, ngày thứ ba rước kiệu Đức Mẹ từ Cổ Vưu vào La Vang.


- Tổ chức thành công rực rỡ Đại Hội La Vang lần thứ 9 (1928), Đại Hội đầu tiên mang tính toàn quốc và Đông Dương. Từ Đại Hội này danh tiếng Đức Mẹ La Vang đã vượt địa phận Huế đến với mọi miền, mọi xứ: Bắc, Trung, Nam, cả Ai Lao và Cao Miên. Năm 1931, do già yếu và bị mù lòa, ngài được Tòa thánh cho phép nghỉ hưu. .


Đức cha Allys Lý qua đời lúc 11 giờ trưa ngày 23.04.1936 tại Tòa Giám Mục Huế, hưởng thọ 84 tuổi (1852 - 1936), 61 năm Linh mục truyền giáo tại Việt Nam, trong đó 28 năm Giám mục với 23 năm lãnh đạo giáo phận Huế và 5 năm hưu trí.


Điều đặc biệt là trong suốt cuộc đời 61 năm Linh mục thừa sai, ngài chưa một lần trở về giáo xứ Paimport, giáo phận Rennes, vùng bán đảo Bretagne quê hương ngài, mặc dù bấy giờ phương tiện đi lại đã dễ dàng hơn, thuận tiện hơn. Chính yếu là tâm nguyện hy sinh trọn đời cho giáo phận Huế và Đức Mẹ La Vang.


Hiện Đức cha đang an nghỉ trong khu lăng mộ nghĩa trang Linh mục Huế tại núi Thiên Thai.


3. PHƯỚC MÔN QUẬN CÔNG NGUYỄN HỮU BÀI - NGƯỜI MANG TÂM HUYẾT CANH TÂN NHÀ MẸ, DẪN LỐI ĐƯA NGƯỜI VỀ VỚI MẸ


Cụ Nguyễn Hữu Bài sinh ngày 28.09.1863 tại làng Cao Xá tỉnh Quảng Trị. Cao tổ của cụ, dòng dõi danh tướng Nguyễn Hữu Cảnh, người làng Mỹ Hương, tỉnh Quảng Bình. Thân sinh cụ Bài là cụ Nguyễn Hữu Các, cháu gọi thánh tử đạo Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh Năm bằng chú ruột.


Cụ Bài xuất thân là chủng sinh chủng viện An Ninh rồi Pénăng, nhưng không có ơn gọi. Cụ vào đời với chức thừa phái Thương Bạc. Dần dần nhờ tài năng, uy tín và lòng chính trực cụ được thăng đến thượng thư Bộ Lại. Đường hoạn lộ của cụ trải qua 50 năm dưới mười triều vua, khi thăng khi trầm nhưng mọi chuyện đều tiền hung hậu kiết. Theo cụ, tất cả là nhờ ơn Đức Mẹ La Vang. Để tỏ lòng biết ơn, cụ nhờ cha sở Cổ Vưu sắm một cỗ kiệu sơn son thếp vàng dâng kính tạ ơn Mẹ, dùng vào các cuộc rước kiệu.


Không có kỳ hành hương lớn nhỏ nào mà không có mặt cụ. Cụ đóng góp nhân lực, vật lực tối đa cho việc tổ chức rồi lặng lẽ đến với Mẹ như một người con thảo bình thường, một khách hành hương trong ngàn vạn khách hành hương khác, tin yêu và khiêm tốn.


Bên cạnh đó là tâm huyết canh cánh của cụ muốn La Vang độc lập về hành chánh để việc mở mang được thuận lợi hơn. Tâm nguyện chính đáng này dù đời cụ chưa thể thực hiện, ngoại trừ những cống hiến lớn lao cho việc hoàn thành đền thờ Đức Mẹ La Vang 1928, song hẳn trên quê Trời cụ đã mãn nguyện khi nhìn thấy các thế hệ hậu duệ đang từng bước thi hành lời khấn hứa kiến thiết La Vang, mở mang quê Mẹ.


Không những năng đến với Mẹ, cụ còn đưa người khác đến với Mẹ, hễ có dịp. Câu chuyện vua Khải Định là một trường hợp điển hình. Một vị vua từ nhỏ đã quy y Phật pháp thế mà vẫn bị cụ thuyết phục, ít ra hai lần sắm sửa lễ vật phúng khấn và tạ ơn Đức Mẹ La Vang.


Trước đó là trường hợp người họa sĩ tài hoa ngoại giáo Nguyễn Khắc Nhân: "Năm 1906, Đức Thành Thái bị truất ngôi, cụ Nguyễn Khắc Nhân, Hàn Lâm viện biên tu tòng sự ở bộ Công, buồn tình cáo lão về quê nuôi mẹ già. Cụ bà Tôn Nữ Thị Quyên và ba con Phi Hổ, Phi Long, Phi Hùng ở lại Huế. Về Hà Nội ít lâu, tình lưu luyến vợ con lại đưa quan Biên về kinh. Cụ bị tình nghi là mưu đồ chống Pháp nên bị 18 tháng tù quốc sự phạm, lại bị đày ra Quảng Trị. Ổ đây cụ gặp Quận Công Nguyễn Hữu Bài là bạn đồng chí... Trong cuộc đào viên kết nghĩa này, tài ba của cụ Nguyễn Khắc Nhân lại bừng sáng lên, nhất là trong lãnh vực thi ca và hội họa về tôn giáo... Nhiều họa phẩm như Thánh Gia Thất, Thánh Đường La Vang vẫn còn lưu lại hậu thế."[1]


"Mà hẳn thật, từ ngày thầy này vẽ bức tượng ấy đến nay, qua một năm, thì Đức Mẹ đã xuống ơn mà bồi công lao khó nhọc, mà Đức Mẹ ban một ơn trọng, chẳng phải ơn thường là ban cho thầy ấy đặng trở lại làm con cái Đức Chúa Trời."[2] Ngày chịu phép Rửa tội, người bọ đỡ đầu không ai khác hơn chính là cụ Nguyễn Hữu Bài.


Công trình ngũ phước[3] một thời được tiếng của cụ, trong đó Phước Môn nằm cạnh La Vang, được lập ra không ngoài mục đích để giáo dân được gần Mẹ, nương cậy Mẹ, phụng tự Mẹ. Hiện nay Phước Môn trực thuộc giáo xứ La Vang.


Những phút cuối đời khi xe Hồng Thập Tự đưa cụ từ Phước Môn vào bệnh viện Huế chữa chạy, cụ cũng bảo ghé La Vang viếng Mẹ, phó thác việc sinh tử trong tay Mẹ.


Cụ qua đời ngày 28.07.1935 tại tư thất ở Bến Ngự, hưởng thọ 73 tuổi. Đức cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn chủ lễ quy lăng đưa linh cữu cụ về an táng tại quê nhà Phước Môn, ở đó trên ngọn đồi thông vi vu, trăng thanh gió mát cụ ngó về La Vang đêm ngày hành hương bên Mẹ.


4. LINH MỤC MORINEAU TRUNG – NGƯỜl QUẢN GIA TRUNG TÍN


Linh mục Morineau Trung sinh năm 1873 tại Salle de Vihiers, giáo phận Angers, vùng Bretagne, Tây Bắc nước Pháp. Thụ phong Linh mục năm 1898. Gia nhập địa phận Huế cùng năm.


Trong suốt 50 năm phục vụ giáo phận Huế, ngài được giao phó nhiều trọng trách mà bao giờ cũng hoàn thành theo phận sự.


Nhưng có lẽ thành công mỹ mãn nhất, tinh thần và vật chất, theo ngài thổ lộ chính là công trình đền thờ Đức Mẹ La Vang. Qua đó Đức Mẹ đã biến đổi tâm hồn cứng cỏi ngài thành một niềm tin sắt đá và hết lòng sùng kính Đức Mẹ La Vang.


Năm 1923, Linh mục quản xứ họ đạo Chợ Lớn JB Hướng, trong dịp hành hương La Vang lần đầu tiên đã nghe ngài tâm sự, kể lại: "Chính mình cha Morineau là cha sở Cổ Vưu nói với chúng tôi rằng ban đầu nghe thiên hạ đồn Đức Mẹ La Vang tôi không tin. Nhưng từ khi về làm cha sở ở đây ở lâu tôi thấy nhiều sự tôi hết chối đặng."[4]


Trong những ngày đầy âu lo của tháng 12.1945, theo lệnh chính phủ chuẩn bị ra tập trung ở giáo xứ Cầu Rầm (GP Vinh), trong những lúc hàn huyên tâm sự cha Morineau Trung thường nhắc đến Đức Mẹ La Vang: "Tôi là người Pháp, có nơi hành hương danh tiếng là Lộ Đức, nơi Mẹ đã hiện ra năm 1858. Nhưng sau một thời gian phục vụ Đức Mẹ La Vang và nghe biết nhiều ơn lạ, cảm động , tôi tin Đức Mẹ La Vang hơn Đức Mẹ Lộ Đức danh tiếng."[5]


Một điểm đáng lưu ý khác, được cha Morineau Trung xác nhận: "Đức Mẹ La Vang thương người lương đặc biệt"[6] và cũng theo ngài "trong các cuộc hành hương hồi bấy giờ có đến 1/3 lương dân tham dự." [7]


Do bởi lòng tin yêu Đức Mẹ ngài không quản khó nhọc, mỗi ngày, bất luận mưa nắng, từ năm 1924, đạp chiếc xe đạp Peugeot từ Cổ Vưu lên La Vang để đôn đốc công việc xây đền thờ Mẹ .


Ngoài ra, vì biết đường sá La Vang khó đi, lên gò xuống nổng, đất đá ngổn ngang, ngài đã nhờ sở Công chánh Quảng Trị san ủi, trải đá con đường tỉnh lộ 1 hơn hai cây số từ ga La Vang thẳng vào đền thờ. Nhờ vậy các vật hạng xây đền Mẹ được vận chuyển dễ dàng hơn đồng thời khách hành hương đến với Mẹ cũng thuận tiện hơn. Người lữ hành chỉ cần "xuống xe lửa lên xe kéo" là đã đến La Vang, không như trước đây chỉ có cách đi bộ.


Cha Morineau qua đời ngày 20.04.1948, hưởng thọ 75 tuổi, 50 năm Linh mục. An nghỉ tại giáo xứ Cầu Rầm, nơi bị tập trung theo lệnh chính phủ.


5. ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC PHÊRÔ MÁCTINÔ NGÔ ĐÌNH THỤC – NGƯỜI KHỞI XƯỚNG VÀ KIẾN THIẾT TRUNG TÂM THÁNH MẪU TOÀN QUỐC LA VANG


Đức cha Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục sinh ngày 06.10.1897 tại giáo xứ chính tòa Phủ Cam nhưng nguyên quán làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Được Đức cha Allys Lý gởi đi du học trường Truyền Giáo Rôma và đã đậu ba bằng tiến sĩ: Triết học, Thần học và Giáo luật. Tại nơi đang đu học ngài được thụ phong Linh mục ngày 20.12.1925. Trở về địa phận Huế năm 1929.


Năm 1938, Tòa thánh thành lập GP Vĩnh Long, ngài được bổ nhiệm làm Giám mục ĐDTT, hiệu tòa Soesina.


Năm 1960, Tòa thánh thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam với ba tổng giáo phận Hà Nội, Huế, Sài gòn, ngài được bổ nhiệm Tổng Giám mục chính tòa tổng giáo phận Huế.


Trước biến cố 01.11.1963 đảo chánh lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm - bào đệ ngài, theo khuyến cáo của Đức Khâm sứ Asta - Đức cha đã sang Rôma tham dự Công đồng Vatican II và sau đó không thể trở về Việt Nam.


Tuy thời gian lãnh đạo tổng giáo phận Huế quá ngắn ngủi (1961 - 1963), nhưng Đức TGM Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục đã để lại một chương trình cải cách cũng như những công trình xây dựng lớn lao, trong đó ngài đã đem hết tâm huyết để kiến thiết Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc La Vang trở nên một nơi xứng đáng của sự cầu nguyện và đền tạ toàn quốc, là tấm bia hùng vĩ lưu truyền cho con cháu mai sau. [8]


Không thể không nhắc lại, năm 1961, từ kiến nghị của ngài mà Hội Đồng Giám Mục Miền Nam đã chấp thuận La Vang là Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc. Đồng thời cũng từ kiến nghị của ngài mà Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã ban hành sắc lệnh "Để Muôn Đời Nhớ" nâng đền thờ La Vang lên bậc Vương Cung Thánh Đường.


Đã có một thời gian dài, do khủng hoảng tinh thần, ly khai Giáo hội. Nhưng ơn Mẹ La Vang đã dẫn dắt ngài ra khỏi cuộc khủng hoảng, hòa giải với Giáo hội và trở về với cộng đồng Công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.


Tháng 08.1984, nhân đến chủ tọa ngày lễ Thánh Mẫu ở Carthage, ngài nói: "Từ 20 năm nay tôi chưa hề thấy người Việt đông như thế này. Nay Mẹ đưa tôi về đây gặp anh chị em lần sau hết. Xin phú thác anh chị em trong Thánh Tâm Mẹ. Xin mọi người cầu nguyện cho tôi được chết lành."[9]


Đức Cha qua đời ngày 13.12.1984. Hưởng thọ 87 tuổi. Thi hài được an táng tại nghĩa trang Resurrection Cemetary, Springfield, Missouri, Orléans. USA.


II. CÁC BẬC VỊ VỌNG KÍNH VIẾNG ĐỨC MẸ LA VANG


A. CÁC BẬC VỊ VỌNG TRONG GIÁO QUYỀN


1. CÁC ĐỨC HỒNG Y


• Ngày 07.01.1955, Đức Hồng y Francis Spellman, Tổng Giám mục New York, nhân dịp đến thăm địa phận Huế đã ra La Vang kính viếng Đức Mẹ. Đức Hồng y chủ tế thánh lễ tạ ơn tại bàn thờ Đức Mẹ, cầu nguyện cho hòa bình Việt Nam. Ngài phát biểu trong xúc động: "Tôi cầu nguyện và tin tưởng chắc chắn thế nào Đức Mẹ La Vang cũng sẽ thắng và đem lại hòa bình cho Giáo hội Việt Nam.”[10]


• Ngày 19.03.1955, Đức Hồng y tiên khởi Úc châu Norman Thomas Giltroy, Tổng Giám mục Sydney, Australia đáp máy bay đến Sàigòn, thân hành viếng thăm, ủy lạo đồng bào di cư. Từ Sàigòn ngài đến các nơi Đà Lạt, Nha Trang, Đà Nẵng và cuối cùng dừng chân ở giáo phận Huế. Ngài đã ra kính viếng Đức Mẹ La Vang, nhưng tôn trọng ý kiến của ngài GP Huế không đưa đón rình rang mà chỉ cử đoàn hướng dẫn.[11]


• Năm 1959, NĂM THÁNH MẪU VIỆT NAM, Đức Hồng y Agagianian, đặc sứ của ĐGH Gioan XXIII đã đến chủ tọa ĐẠI HỘI THÁNH MẪU TOÀN QUỐC tại Sàigòn. Sau Đại Hội, Đức Hồng y đặc sứ đi thăm các giáo phận cao nguyên và miền Trung. Điểm cuối cùng và quan trọng nhất là thánh địa La Vang.


Hôm ấy đồi La Vang xám xịt trong cơn mưa càng lúc càng nặng hạt. Nhưng lạ thay, một biển người chừng mười lăm, hai mươi ngàn, hàng lối chính tề nao nức đội mưa chào đón ngài. Ngài xuống xe thân mật tiếp xúc với mọi người ngay giữa sân trong cơn mưa tầm tã rồi xúc động nói: "Các con thân yêu! Cha cầu mong ơn thánh sủng và phúc lành Chúa đổ xuống trên các con như những giọt nước mưa đang rơi xuống La Vang lúc này."[12]


Đức Hồng y đặc sứ cử hành thánh lễ dưới bóng từ bi của Đức Mẹ La Vang. Sau thánh lễ, ngài đến quỳ cầu nguyện rất lâu trước linh đài Đức Mẹ. Tiếp đó ngài đi vào phòng khánh tiết viết vào sổ lưu niệm những dòng quý báu bằng La ngữ: "Với lòng ngưỡng mộ của con cái thảo hiếu, con sấp mình dưới chân Mẹ chí thánh của Thiên Chúa trong thánh đường này. Với một đức tin sắt đá, con khẩn khoản nài xin lòng nhân từ Thiên Chúa đổ xuống mọi ơn lành như mưa trên trời rơi xuống đem mọi phúc đức và bình an cho Giáo hội và dân tộc Việt Nam để vinh danh Chúa Kitô-Vua, để sáng danh Giáo hội Công giáo, người Mẹ hiền từ, để các linh hồn được ơn cứu rỗi, hầu nên một đoàn chiên dưới quyền chăn dắt của một Chúa chiên."[13]


• Ngày 01.07.1989 Đức Hồng y Roger Etchegaray, chủ tịch Hội Đồng Toà Thánh về Công Lý - Hoà Bình, đại diện Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã có mặt ở Việt Nam, thực hiện chuyến thăm 11/25 giáo phận Việt Nam từ ngày 01.07- 13.07.1989[14]


Ngày 08.07.1989, đang ở thăm giáo phận Huế, Đức Hồng y R. Etchegaray đã ra kính viếng Đức Mẹ La Vang. Ngài vô cùng xúc động khi tận mắt chứng kiến những đổ nát hoang tàn còn đọng lại sau chiến tranh, nhưng ngài cũng không khỏi sững sờ ngạc nhiên, cảm phục khi nhìn thấy trong tang thương con cái Việt Nam vẫn một lòng tin yêu sùng kính Đức Mẹ La Vang.


Cũng trong dịp này, cha sở Diên Sanh kiêm La Vang E. Nguyễn Vinh Gioang đã đệ trình lên ĐTC Gioan Phaolô II một lá thư tường trình về "những cuộc hành hương và đời sống cầu nguyện tại linh địa La Vang trong những ngày tháng đầy khó khăn và tế nhị sau năm 1975".


• Chiều 14.08.1996, Đức Hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam lần đầu tiên đến La Vang, chủ tọa Đại Hội 24. Trong không khí tưng bừng của cuộc đón rước ngài chân thành phát biểu: "Tôi cảm tạ Chúa và Mẹ Maria đã ban cho tôi được dịp lên hành hương nơi linh địa La Vang này. Một ơn mà tôi hằng mong ước được thực hiện." Đức Hồng y chủ tế thánh lễ đồng tế bế mạc - Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời - sáng 15.08.1996.


Lần thứ hai, lúc 16.30 thứ bảy ngày 14.08.1998 – Ngày thứ hai trong Tam Nhật đại lễ kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang - Đức Hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đặc sứ của ĐGH Gioan Phaolô II, đến chủ tọa đại lễ. Cộng đồng dân Chúa do các Đức Giám mục dẫn đầu long trọng nghinh đón ngài trong tiếng vỗ tay rền vang.


Đức Hồng y đặc sứ thay mặt Đức Thánh cha Gioan Phaolô II trao dây Pallium cho Đức cha Têphanô Nguyễn Như Thể, người vừa được Tòa thánh bổ nhiệm Tổng Giám mục Huế vào ngày 01.03.1998, đồng thời chủ tế thánh lễ đồng tế bế mạc - Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời - sáng 15.08.1998 và giảng về đề tài "Sống đức tin theo gương Mẹ".


Đúng một năm sau, cũng vào ngày giờ nói trên cộng đồng dân Chúa hành hương La Vang, lần thứ ba hân hoan chào đón Đức Hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, chủ tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam đến chủ tọa đại lễ bế mạc NĂM TOÀN XÁ ĐỨC MẸ LA VANG. Cũng như hai lần trước, Đức Hồng y chủ tế thánh lễ đồng tế bế mạc - Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời - sáng 15.08.1999 và giảng về đề tài "Hành Hương”.


2. CÁC ĐỨC KHÂM MẠNG TÒA THÁNH


• Ngày 08.03.1923, sau cuộc kinh lược các giáo phận miền Bắc, Đức Khâm sai Lécroart đang có mặt ở Hướng Phương, GP Vinh, chuẩn bị vào thăm GP Huế. Đức cha Allys Lý dẫn đầu phái đoàn chờ nghênh đón ở họ đạo Bồ Khê, nam sông Gianh. Ngày 09.03.1923 Đức Khâm sai đến Cổ Vưu, chiều đến Huế.


Tại Huế, Đức Khâm sai mở cuộc viếng thăm giáo quyền và chính quyền trong suốt một tuần lễ. Ngày 16.03:1923, Đức Khâm sai đi ngược ra Quảng Trị thăm sở Đất Đỏ, Di Loan, Cổ Vưu, Phước Môn rối qua La Vang kính viếng Đức Mẹ.


Đức Khâm sai cùng phái đoàn vào nhà thờ ngói cổ quỳ cầu nguyện rất lâu. Sau đó ngài nhận cuốn sổ vàng từ tay cha sở Cổ Vưu Morineau Trung và viết vào đó những dòng quý báu ghi nhớ cuộc kính viếng Đức Mẹ La Vang.[15]


. Ngày 20:05.1925 ĐGH Piô XI ban hành tông thư Ex Officio Supremo thành lập Tòa Khâm Mạng Đông Dương và Thái Lan, trụ sở đặt tại Việt Nam. Đồng thời ngày.25.05.1925, bổ nhiệm Đức Giám mục Constantino Ayuti người Ý làm khâm sứ tiên khởi.


Ngày 25.11.1925 Đức Khâm sứ Ayuti đến Sàigòn. Ngài đi thẳng ra Hà Nội xem xét tình hình rồi trở về Huế. Tại đây ngài đã đi thăm chủng viện An Ninh, sở Phước Môn và qua La Vang kính viếng Đức Mẹ . Sau cuộc viếng thăm này Đức Khâm sứ quyết định, theo ý kiến cụ Bài, thiết lập Tòa Khâm Mạng ở Phủ Cam.


Ngày 26.11.1928 Đức Khâm sứ Colomban Dreyer đến Huế thay Đức Khâm sứ Ayuti qua đời đột ngột ngày 29.07.1928 khi đang thăm viếng Đà Lạt. Đức Khâm sứ Dreyer là vị khâm sứ đầu tiên ở trong tòa nhà Khâm Mạng Phủ Cam (khánh thành ngày 01.05.1928), cho đến năm 1936. Trong thời gian 8 năm này, Đức Khâm sứ đã nhiều lần ra La Vang chầu Đức Mẹ.


. Năm 1937 Đức Khâm sứ Drapier đến Huế và ngài đã ở Tòa Khâm Mạng suốt 13 năm. Ngài là người hết lòng tin yêu Đức Mẹ La Vang, vì thế trong những ngày tháng nguy nan do thế giới đại chiến thứ hai gây ra, ngài đã gởi thông cáo kêu gọi mọi người hướng về Đức Mẹ La Vang để xin ơn hòa bình.


Dịp Đại Hội La Vang 12 (1938), ngài chủ tế thánh lễ bế mạc sáng 19.08.1938 tại đền thờ Đức Mẹ La Vang. Đó cũng là kỳ Đại Hội duy nhất mà ngài tham dự, bởi sau đó do hoàn cảnh chiến tranh, Đại Hội La Vang bị gián đoạn 17 năm.


Năm 1950, Đức Khâm sứ Drapier thuyên chuyển đi nơi khác. Tòa Khâm Mạng Huế được dời ra Hà Nội. Năm 1959 bãi bỏ. Tái lập tại Sàigòn.


• Đức Khâm sứ Giuseppe Caprio ít nhất đã hai lần đến La Vang. Một lần vào ngày 16.07.1956, ngài chủ tế thánh lễ với sự tham dự của một vạn giáo dân. Lần thứ hai vào dịp Đại Hội La Vang 14, ngài cử hành thánh lễ tại linh đài Bát Giác ngày 21.08.1958 - Ngày Công Giáo Tiến Hành toàn quốc - trước 10.000 giáo hữu, đa phần là giới chức Công Giáo Tiến Hành.[16]


Ngày 22.08.1961, ngày bế mạc Đại Hội La Vang 15, từ Sài gòn Đức Khâm sứ Mario Brini đã gởi bức điện tín như sau: "Thinh cầu Đức Tổng Giám mục đặt dưới chân Đức Mẹ La Vang những lời khẩn cầu sốt sắng của tôi hiệp với những lời khẩn cầu của hàng giáo phẩm Việt Nam, để xin nước Chúa Ki tô toàn thắng nhờ Mẹ Maria. "Đồng thời, cũng ngày này Đức Khâm sứ Mario Brini đã cử Đức ông De Nitris, thư ký Tòa Khâm Mạng tới dự Đại Hội, nghinh rước và tuyên đọc bằng La ngữ sắc chỉ Tòa thánh nâng đền thờ La Vang lên bậc Vương Cung Thánh Đường.[17]


Ngày 28.11.1964 Đức Khâm sứ Angelo Palmas đã tới La Vang trong sự đón tiếp của 7.000 giáo dân. Ngài đến linh đài Đức Mẹ cầu nguyện xong nghe đọc chúc từ. Ngài ban huấn từ và dâng thánh lễ tại linh đài.[18]


3. CÁC ĐỨC GIÁM MỤC NGOÀI NƯỚC


• Năm 1928 Đức cha Gouin, Giám mục địa phận Lào đã đến La Vang tham dự Đại Hội 9.


• Năm 1952, trong tình cảnh an ninh chưa mấy sáng sủa, Đức cha Laosdeat, Giám mục địa phận Lào đã đến La Vang kính viếng Đức Mẹ.


• Năm 1955 Đức cha Eris O Brien, Tổng Giám mục thành Canberra Úc châu đã đến La Vang kính viếng Đức Mẹ, cùng một lượt với Đức Hồng y Giltroy và Linh mục Daniels, đại diện Đức Hồng y Yring thành Cologne.


• Năm 1958 Đức cha U Win, Giám mục tiên khởi Miến Điện, cùng bốn Linh mục tháp tùng Toupha, Su, Wong và D'Erie, nhân chuyến viếng thăm Công giáo Việt Nam, đã đến La Vang tham dự Đại Hội 14. Các ngài đã có mặt suốt ba ngày Tam Nhật.[19]


• Ngày 30.08.1999, đáp lời mời của Hội Đồng Giám mục Việt Nam, một phái đoàn của Hội Đồng Giám mục Hoa Kỳ gồm Đức Giám mục trưởng đoàn (Đức cha Joseph Antony Fiorenza, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục và Hội Đồng Công Giáo Hoa Kỳ), ba Đức Giám mục thành viên (Đức cha Théodore E.Mc. Carrick, TGM Neward, chủ tịch UB Chính Sách Quốc Tế của HĐGMHK + Đức cha John S. Cummins, GM Oakland, thành viên UB GMHK về Di Dân + Đức cha John H. Ricard, chủ tịch HĐ Giám Đốc Điều Hành CRS), ba giáo dân (ông Kenneth Hackett, giám đốc điều hành CRS[20]+ ông Lacy Wright, phụ tá giám đốc UB Giám mục về Di Dân và Tị Nạn + ông Thomas Quigley, cố vấn chính sách Á châu HĐ Công Giáo Hoa Kỳ) và Linh mục gốc Việt Lê Quang Hiền, phụ trách tham vấn và thông dịch, đã có mặt ở La Vang nhân chuyến viếng thăm Việt Nam.


Phái đoàn đã đến chầu Đức Mẹ tại linh đài rồi vào quỳ cầu nguyện rất lâu trong ngôi nhà nguyện bằng tôn thấp nóng.


Sau bữa cơm trưa thân mật, phái đoàn được thưởng thức vũ điệu "Cầu Xin Mẹ La Vang" do đoàn dân tộc Bru trong y phục truyền thống của mình biểu diễn.


Phát biểu cảm nghĩ, Đức cha trưởng phái đoàn nói: "Giáo dân Việt Nam thật sự hạnh phúc hơn giáo dân Hoa Kỳ vì vinh dự có Đức Mẹ La Vang. Giáo hội Hoa Kỳ tuy rộng lớn nhưng không có nơi nào có dấu chân Mẹ. Vậy ước gì Giáo hội Hoa Kỳ được là đứa con nuôi của Đức Mẹ La Vang."


Đáp lễ cuộc viếng thăm này, ngày 10.11.2003 phái đoàn các Đức Giám mục Việt Nam do Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, chủ tịch HĐGMVN dẫn đầu đã đến chào mừng HĐGMHK tại hội nghị thường niên ở thủ đô Washington, và đã tặng HĐGMHK bức tranh thêu Đức Mẹ La Vang.


4. CÁC ĐỨC GIÁM MỤC TRONG NƯỚC


Thật khó có thể liệt kê hết tên tuổi các vị Giám mục trong nước đã từng đến kính viếng Đức Mẹ La Vang. Tuy nhiên, có một điều dễ dàng nhận thấy là hầu hết, nếu không nói là tất cả, các Đức Giám mục trong nước đều tôn sùng, phục lụy Đức Mẹ La Vang mà đa phần các vị đều ít nhất một lần đến La Vang bái chầu Mẹ. Hơn thế nữa, có thể nói mỗi Đức Giám mục trong nước là một tấm gương yêu mến Đức Mẹ La Vang mà giáo dân Việt Nam hằng ngưỡng mộ, noi theo.


Cho đến ngày thiết lập hàng giáo phẩm VN, ngoại trừ các Đức Giám mục lãnh đạo địa phận Huế, có thể kể tên một số các Đức Giám mục trong nước đã từng có mặt ở La Vang, một hoặc nhiều lần: Grangeon Mẫn (Qui Nhơn), Eloy Bắc (Vinh), Marcou Thành (Phát Diệm), Vandale Vạn (Hưng Hóa), Tardieu Phú (Qui Nhơn), Piquet Lợi (Nha Trang), Nguyễn Bá Tòng (Phát Diệm), Nguyễn Văn Bình (Sàigòn), Hoàng Văn Đoàn (Qui Nhơn), Phạm Ngọc Chi (Đà Nẵng), Jacques Mỹ (Lạng Sơn), Seitz Kim (Kontum), Nguyễn Huy Mai (Ban Mê Thuột), Đan Viện phụ Phước Sơn Benoit (Henri Denis) Thuận, và các Đức Giám Mục gốc Huế đang lãnh đạo các địa phận khác: Hồ Ngọc Cẩn (Bùi Chu), Ngô Đình Thục (Vĩnh Long), Lê Hữu Từ (Phát Diệm), Nguyễn Văn Hiền (Sàigòn). Về sau có Đức cha Nguyễn Văn Thuận (Nha Trang) và Phạm Văn Lộc (Kontum).[21]


Có thể kể thêm các vị tân Giám mục miền Nam đang tĩnh tâm tại đan viện Thiên An năm 1960 cũng đến với Mẹ: Trần Văn Thiện (Mỹ Tho), Nguyễn Văn Thiện (Vĩnh Long), Nguyễn Kim Điền (Cần Thơ), Nguyễn Khắc Ngữ (Long Xuyên). Về sau có Đức cha Lê Văn Ấn (Xuân Lộc).[22]


Sau đó, do chiến tranh và hoàn cảnh, các Đức Giám mục ít có cơ hội đến La Vang. Ngoại trừ một lần các Đức Giám mục giáo tỉnh Huế đến dâng thánh lễ đồng tế tại La Vang, ngày 09.02.1980, dịp tĩnh tâm tại Huế. Mãi đến năm 1998, năm cử hành đại lễ kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang, hoàn cảnh thuận lợi hơn, các Đức Giám mục mới có cơ hội đến La Vang.


• Trong đại lễ kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang có mặt Đức Hồng y Phạm Đình Tụng và các Đức Giám mục Nguyễn Văn Hòa (Nha Trang), Huỳnh Văn Nghi (Phan Thiết), Nguyễn Văn Nhơn (Đà Lạt), Phạm Minh Mẫn (TpHCM), Nguyễn Sơn Lâm (Thanh Hóa), Nguyễn Văn Nho (Nha Trang), Nguyễn Tích Đức (Ban Mê Thuột), Trần Thanh Chung (Kontum), Nguyễn Văn Sang (Thái Bình), Nguyễn Văn Yến (Phát Diệm), Nguyễn Quang Tuyến (Bắc Ninh).


• Trong Đại Hội La Vang 25 (1999) - Bế mạc Năm Toàn Xá Đức Mẹ La Vang - có mặt Đức Hồng y Phạm Đình Tụng và các Đức Giám mục Lê Đắc Trọng (Hà Nội), Ngô Quang Kiệt (Lạng Sơn), Cao Đình Thuyên (Vinh). Nguyễn Tích Đức (Ban Mê Thuột), Nguyễn Văn Hòa và Nguyễn Văn Nho (Nha Trang), Nguyễn Văn Diệp (Vĩnh Long), Nguyễn Văn Nhơn (Đà Lạt), Nguyễn Văn Trâm (Xuân Lộc), Nguyễn Văn Sang (Thái Bình), Trần Đình Tứ (Phú Cường), Lê Phong Thuận (Cần Thơ), Bùi Văn Đọc (Mỹ Tho), Phạm Minh Mẫn (TpHCM), Nguyễn Sơn Lâm (Thanh Hóa), Nguyễn Quang Sách (Đà Nẵng), Nguyễn Soạn (Qui Nhơn), Nguyễn Quang Tuyến (Bắc Ninh), Nguyễn Văn Yến (Phát Diệm), Linh mục Giám quản Nguyễn Thái Hà (Hưng Hóa) và Đan Viện phụ Thiên An Huỳnh Quang Sanh.


• Trong Đại Hội La Vang 26 (2002) có mặt Đức Hồng y Phạm Đình Tụng và các Đức Giám mục Phạm Minh Mẫn (TpHCM), Lê Đắc Trọng (Hà Nội), Nguyễn Thanh Hoan (Phan Thiết), Nguyễn Văn Hòa và Nguyễn Văn Nho (Nha Trang), Ngô Quang Kiệt (Lạng Sơn), Hoàng Văn Tiệm (Bùi Chu), Nguyễn Soạn (Qui Nhơn), Nguyễn Tích Đức (Ban Mê Thuột), Nguyễn Văn Nhơn (Đà Lạt) và Đan Viện phụ Thiên An Huỳnh Quang Sanh.


Không thể không nhắc đến các Đức Giám mục lãnh đạo giáo phận Huế mà mỗi vị được xem là một "Giám mục của Đức Mẹ La Vang ": Caspar Lộc, Allys Lý, Chabanon Giáo, Lemasle Lễ, Urrutia Thi, Ngô Đình Thục, Nguyễn Kim Điền, Nguyễn Như Thể.


Qua sự hiện diện gần như đầy đủ của các Đức Giám mục, có thể nói, kể từ đại lễ kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang thì La Vang không còn là chuyện riêng của giáo phận Huế nữa mà là chuyện chung của HĐGMVN và cả Giáo hội Việt Nam.


5. CÁC TÔNG ĐỒ NHIỆT THÀNH CỦA ĐỨC MẸ LA VANG[23]


• Đức Cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn được xếp "đệ nhất tông đồ" về sưu tầm sử liệu Đức Mẹ La Vang với những bài giảng sinh động hùng hồn trong các kỳ đại hội. Bên cạnh đó là những công trình nghiên cứu, những bài viết về ơn lạ đăng tải liên tục trong Nam Kỳ Địa Phận. Hơn hết là công lao truy tìm, hiệu đính Vãn La Vang, một tác phẩm quý bị thất lạc nhiều năm.


Kể từ ngày được bổ nhiệm Giám mục Bùi Chu, thời gian không cho phép ngài tiếp tục công việc tốt đẹp này, nhưng lòng trí ngài thì bao giờ cũng ở bên Mẹ. Như Đại Hội La Vang 12 (1938), không thể vào tham dự, ngài ân cần gởi bức điện tín:


“Monseigneur Lemasle, La Vang


Avec chère Mission Huế, Bùi Chu et son Evêque unissent leur joie, prières et louanges devant Notre Dame de La Vang" (Kính gởi Đức cha Lemasle Lễ, La Vang - Một lòng một ý cùng địa phận Huế, địa phận và Giám mục Bùi Chu hiệp sự vui mừng, lời cầu nguyện và câu chúc tụng dâng lên trước tòa Đức Mẹ La Vang)[24]


• "Đệ nhị tông đồ " phải kể đến là Linh mục Giuse Trần Văn Trang với TỰ TÍCH TÔN KÍNH ĐỨC MẸ LA VANG, xuất bản năm 1923. Bên cạnh đó là những bài thuyết giảng, những bài phóng sự Đại Hội La Vang, những bài ơn lạ Đức Mẹ La Vang đều đặn xuất hiện trên Nam Kỳ Địa Phận. Ngoài ra cha Giuse Trang còn sáng tác nhiều bài thơ hay về Đức Mẹ La Vang, nhằm nung nấu lòng tin yêu Đức Mẹ nơi người tín hữu. Đồng thời ngài tận dụng mọi cơ hội để quảng bá quyền phép Đức Chúa Bà La Văng nơi lương dân. Ngài xứng đáng với danh hiệu Tông đồ dân ngoại và Tông đồ Đức Mẹ La Vang.


• Không ai khác hơn, chính Linh mục Philipphê Lê Thiện Bá là vị "đệ tam tông đồ" của Đức Mẹ La Vang trong lãnh vực này với những bài thơ hay, những bài ơn lạ hấp dẫn và những bài phóng sự Đại Hội La Vang đặc sắc xuất hiện liên tục trên Nam Kỳ Địa Phận. Bên cạnh đó, một công trình nghiên cứu riêng về sự tích, địa bạ, lịch sử Đức Mẹ La Vang, công phu và tỉ mỉ, giúp ích rất nhiều cho những ai muốn tìm hiểu về Đức Mẹ La Vang.


• Có thể kể thêm: Linh mục Giacôbê Nguyễn Linh Kinh với công trình sưu tập 400 trang bản thảo bị thất lạc. Linh mục Mathêô Lê Văn Thành với sách Đức MẸ LA VANG (1955). ông Phạm Đình Khiêm với sách ĐỨC MẸ LA VANG LÀ NỮ VƯƠNG CHIẾN THẮNG (1959). Linh mục Stanilaô Nguyễn Văn Ngọc với sách LINH ĐỊA LA VANG (1970). Linh mục Hồng Phúc (CSsR) với sách Đức MẸ LA VANG VÀ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM (1998). Linh mục Nguyễn Tự Do (CSsR) với sách Đức MẸ LA VANG 200 NĂM (2000)…


• Không thể không nói đến Linh mục E. Nguyễn Vinh Gioang, người đã ra sức gìn giữ và bảo vệ La Vang trong những năm tháng đầy khó khăn và tế nhị (1975 - 1995). Đồng thời âm thầm ghi chép và lưu giữ những tài liệu lịch sử quý giá về thánh địa La Vang. Cho đến nay, mặc dù rời nhiệm vụ đã mười năm (1995 - 2005), ngài vẫn tiếp tục sưu tập và kiểm chứng những ơn lạ Đức Mẹ La Vang, cập nhật hóa phần thời sự La Vang rồi đưa vào mạng Internet hoặc công bố trên nội san SỐNG TIN MỪNG một công trình chỉ có mình ngài độc diễn.


B. CÁC BẬC VỊ VỌNG TRONG CHÍNH QUYỀN


Lịch sử còn ghi lại nhiều cử chỉ tốt đẹp của chính quyền, từ xưa tới nay, đối với thánh địa La Vang. Có thể ghi lại:


• Ở tiền bán thế kỷ XX, trong các kỳ kiệu lớn, lễ lớn, người ta thường dễ dàng nhận ra các vị chức sắc cao cấp trong chính phủ đến tham dự. Đó là các vị quan khâm sứ, công sứ người Pháp trong chính phủ Bảo Hộ, các vị quan thượng thư, tuần phủ, án sát trong chính phủ Nam Triều. Đứng đầu, thường thấy là thượng thư Nguyễn Hữu Bài.


• Vua Khải Định, dù chưa một lần đến La Vang song qua ơn Mẹ đã ban cho nhà vua khỏi bệnh vào dịp Tứ Tuần Đại Khánh 1925, đã khiến nhà vua hai lần cử phái bộ triều đình ra La Vang phúng khấn tạ ơn Mẹ:


"Một chiều kia cha Morineau Trung ở Cổ Vưu vào La Vang đột ngột bảo ông từ Lê Hộ dọn dẹp trang hoàng đền thờ. Mãi đến nửa đêm hai chiếc xe hơi đưa những vị khách trọng đến. Ấy là lễ tạ ơn của nhà vua. Năm sau, vua Khải Định lại ngã bệnh nguy cấp. Một lần nữa, vua sai cụ Bài ra La Vang khấn xin Đức Mẹ. Lễ vật vua dâng kỳ này là hai cây sáp ong to lớn cao một thước, vòng lưng ba tấc rưỡi..."[25]


• Ngày 01.09.1954 Hội Đồng tỉnh Quảng Trị viếng thăm thánh địa La Vang dịp đình chiến.[26]


• Ngày 27.01.1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm cùng nhiều bộ trưởng trong chính phủ VNCH, hơn 200 đại diện các phái đoàn kiểm soát đình chiến (Anh, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Canada, Philippine...) cùng 12 ký giả, nhiếp ảnh nước ngoài đã đến La Vang kính viếng Đức Mẹ.[27]


• Ngày 15.08.1958, tổng thống Ngô Đình Diệm cùng các nhân vật cao cấp trong chính phủ VNCH, quốc hội và quân đội, trong đó có đại tướng Lê Văn Tỵ đã đáp máy bay xuống sân bay Đông Hà rồi đi xe hơi lên La Vang kính viếng Đức Mẹ.[28]


• Ngày 01.10.1958 phái đoàn quốc hội VNCH do hai ông Phạm Văn Nhu (chủ tịch quốc hội) và ông Trần Văn Lắm dẫn đầu đã đến La Vang kính viếng Đức Mẹ. Phái đoàn đã để lại bút tích trong sổ vàng La Vang.[29]


• Ngày 08.12.1958, nhân ngày lễ Đức Bà Vô Nhiễm Nguyên Tội, một phái đoàn gồm các nhân vật cao cấp trong chính phủ VNCH do ông Trương Vĩnh Lễ dẫn đầu đã đến La Vang. Phái đoàn sốt sắng tham dự thánh lễ và nghe giảng về đề tài "Đức Mẹ Maria, Đức Mẹ La Vang".[30]


• Ngày 16.08.1961, một ngày trước khai mạc Đại Hội La Vang 15, tổng thống Ngô Đình Diệm và phái đoàn cao cấp chính phủ VNCH đã đến La Vang. "Như những giáo dân ngoan đạo khác, ông Ngô Đình Diệm, tổng thống VNCH, cũng đã hành hương đến La Vang. Bằng một cử chỉ tôn kính Đức Mẹ, từ cổng tam quan ông xuống xe cởi giày đi chân đất đến đền thánh, vào quỳ trước bàn thờ chính, cùng với Đức Tổng Giám mục bào huynh Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục bên trái và Đức Tổng Giám mục Urrutia Thi bên phải, cầu nguyện rất lâu với Đức Mẹ La Vang xin cho nước nhà bình yên, dân an quốc thái."[31]


Rời đền thờ, theo sự hướng dẫn của cha sở La Vang, cụ và phái đoàn đến quỳ chầu Đức Mẹ tại linh đài một lúc rồi mới lưu luyến từ giã.


• Ngày 22.08.1961, ngày bế mạc Đại Hội La Vang 15, phái đoàn chính phủ VNCH gồm nhiều tướng lãnh và các vị lãnh đạo cao cấp, do phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đã tới La Vang tham dự và chào mừng Đại Hội.


Cũng vào dịp này, dễ dàng nhận ra sự có mặt của tướng Pérakiraly, một vị tướng lãnh trong quân đội Hungari.


• Sau cuộc chính biến ngày 01.1 1.1963, người ta thêu dệt nhiều giai thoại lạnh lùng về đạo Công giáo khiến chính quyền và giáo quyền trở nên không mấy thân thiện. Dù vậy, ngày 17.05.1964 - ngày bế mạc Đại Hội La Vang 16 - vẫn có hai phái đoàn chính quyền của hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên do hai vị tỉnh trưởng dẫn đầu đã đến chúc mừng Đại Hội La Vang trong sự tiếp đón nồng hậu của ban tổ chức và cộng đồng hành hương.


• Những năm gần đây, mỗi lần La Vang có đại lễ, đại hội, chính quyền hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế đều có cử đại diện đến chào mừng và dự lễ. Họ phát biểu những lời chân tình và thân thiện.


III. CÁC CUỘC LỄ TRUYỀN CHỨC LINH MỤC TẠI LA VANG


Từ trước tới nay, tại La Vang chỉ có ba cuộc lễ truyền chức Linh mục. Đó là:


1. LỄ TRUYỀN CHỨC LINH MỤC ĐẦU TlÊN TẠI ĐỀN THỜ ĐỨC MẸ LA VANG[32]


Sáng ngày 24.01.1959, giáo dân tấp nập đổ về La Vang như một ngày hội. Ai nấy đều cố nhanh chân để có một chỗ trong nhà thờ, sốt sắng dự lễ truyền chức Linh mục cho thầy phó tế Philipphê Trần Văn Hoài, người An Ninh.


Để đảm bảo cho cuộc lễ được trang nghiêm, lúc Đức cha Urrutia Thi và 70 Linh mục bước lên bàn thờ thì các cửa ra vào phải đóng lại vì không còn một chỗ trống. Hàng ngàn giáo hữu đến sau đành đứng ngoài sân hướng về bàn thánh thông công cầu nguyện cho vị tân Linh mục.


Trong bữa cơm thân mật sau lễ, cha sở La Vang Giuse Trần Văn Tường nhắc lại quãng đường của vị tân Linh mục đã trải qua và cầu xin ơn lành cho những ngày mới trong thiên chức mới. .


Linh mục Philipphê Trần Văn Hoài nay là Đức ông Hoài đang ở Rôma, đã nghỉ hưu.


2. LỄ TRUYỀN CHỨC LINH MỤC ĐẦU TlÊN TẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG LA VANG[33]


Ngày 05.01.1962, nhằm ngày lễ Chúa Hiển Linh, Đức Tổng Giám mục Urrutia Thi đã cử hành thánh lễ truyền chức Linh mục lần đầu tiên kể từ ngày đền thờ Đức Mẹ La Vang được nâng lên bậc Vương Cung Thánh Đường. Người được vinh dự nhận chức thừa tác vụ Linh mục là thầy Têphanô Nguyễn Như Thể, sinh quán Cây Da, nguyên quán Nho Lâm.


Hôm ấy nhằm tiết đông lạnh rét nhưng vẫn có nhiều Linh mục, tu sĩ, thân nhân tân Linh mục và hàng ngàn giáo dân tề tựu dự lễ.


Linh mục Têphanô Nguyễn Như Thể hiện nay là Tổng Giám mục lãnh đạo tổng giáo phận Huế.


3. LỄ TRUYỀN CHỨC LINH MỤC ĐẦU TIÊN TẠI LINH ĐÀI ĐỨC MẸ LA VANG


Ngày 22.08.1968, nhằm ngày lễ Thánh Tâm Vô Nhiễm Đức Mẹ theo lịch công giáo địa phận Huế, cũng là ngày kỷ niệm 7 năm cung hiến Vương Cung Thánh Đường La Vang. Dù không tổ chức đại hội cấp toàn quốc, giáo phận Huế vẫn tổ chức kiệu thường niên kết hợp cử hành thánh lễ truyền chức Linh mục tại linh đài Đức Mẹ. Vì thế số giáo dân tề tựu về La Vang hôm ấy có thể lên đến non một vạn người.


Sau cuộc rước kiệu Đức Mẹ, Đức Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền chủ tế thánh lễ truyền chức Linh mục cho thầy Giuse Dương Đức Toại, người An Ninh. Đây là thánh lễ truyền chức Linh mục đầu tiên được tổ chức ngay chính nơi tương truyền Đức Mẹ đã đứng khi hiện ra.