TRÙM NOÃN
người có công xây dựng nên giáo xứ Tân Thành
Giáo xứ Tân Thành
1. Noãn, một trong hai lực điền cày ruộng
cho gia đình tôi trước năm 1945. Anh ta người to con, mạnh khỏe, nhanh nhẹn,
hơi lùn, môi dày, mắt sắc, và xếch. Miệng bằng tay, tay bằng miệng. Hay hài
hước, nên ai cũng thích. Tôi còn nhớ, lúc tôi khoảng hai ba tuổi, có một hôm,
tôi vòi mẹ tôi ăn đường, mẹ tôi đang bận việc nên gắt gỏng, Noãn thấy vậy đi
lại gần tôi và bảo: “Cậu muốn ăn đường sao không hỏi tôi?” Tôi đưa con mắt ngơ
ngác, khờ dại của một đứa trẻ nhìn Noãn, anh ta vẩy tay và vác cuốc đi trước,
tôi theo sau, ra một con đường mòn, Noãn đào lên mấy hòn đất, bảo tôi, ăn đi,…
đường đó!!!
Dĩ nhiên, một đứa trẻ như tôi không thú
vị gì về sự hài hước độc ác như thế của Noãn, nhưng về sau khôn lớn, có chút
suy nghĩ, tôi cho anh ta là một người thông minh, biết dùng “đồng âm”, “dị
nghĩa” mà dựng nên câu chuyện hài hước.
Noãn, người Chợ Lù, cách làng tôi khoảng
8 cây số, về hướng Đông, thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Mồ côi cha mẹ từ
thuở thơ ấu, một vị Thừa sai đem về rửa tội, ném vào một đồn điền nhà chung,
chăn bò. Cha Già Hạp, thấy lanh lợi, đem về cho chăn bò và làm việc vặt trong
nhà xứ. Khoảng năm 1941 hay 1942, trước khi về hưu tại Quảng Bình, cha già Hạp
cưới vợ cho Noãn và làm một căn nhà cuối xóm, gần nhà tôi. Từ đó, Noãn trở nên
một lực điền cày ruộng trong gia đình tôi.
Noãn, tính không thật, hay ăn trộm vặt,
vì thế sau này ở làng tôi có câu thành ngữ áp đặt khắt khe lên cuộc đời của
Noãn, “Trộm vặt như Noãn”. Mỗi lần Noãn nghe câu đó, anh ta cười hô hố để hóa
giải câu áp đặt nghiệt ngã lên cuộc đời của anh. Tuy nhiên trước pháp luật,
Noãn vẫn là người vô tội, vì chưa ai bắt được quả tang Noãn ăn trộm của ai?!
Một lần, vào một buổi tối, tôi còn nhớ
ba tôi, tay cầm cái điếu thuốc lào, bằng ống tre, châm lửa, hít một hơi dài,
nhả khói vào trần nhà, rồi chậm rải bảo hai chú lực điền:
- Hai chú ra bắt hai con gà trống lớn
nhất, vào nhốt riêng, để sớm mai làm thịt đãi khách.
Má tôi ngồi bên, phản đối yếu ớt:
- Hai con gà để nó gáy sáng, sao làm
thịt cả hai.
Ba tôi, giọng trịch thượng, tính ông cố
hữu vẫn thế:
- Đã bảo làm, cứ làm đi…
Hai chú lực điền, mở cửa sau đi về hướng
chuồng gà, chỉ một nháy mắt, Noãn ôm một chú gà trên cánh tay như người mẹ bồng
con, con gà mắt lim dim như ngái ngủ. Còn chú lực điền kia, xách con gà trống
lớn, hai chân ngược lên trời, gà kêu oang oác. Ba tôi nhìn hai chú lực điền và
cười, Noãn hiểu ý, vái ba tôi một vái thật dài và nói:
- Con bắt gà nhà ai, nhưng chưa bao giờ
và sẽ không bao giờ bắt gà của ông bà.
Ba tôi điềm đạm trả lời:
- Điều đó tôi đã biết, con người anh, là
một dòng sông, bên trên mặt nước có những điều lắt léo, nhưng phía dưới là cái
tâm, cuồn cuộn chảy xiết, một đường thẳng tắp, đẩy ra biển cả mênh mông.
Tôi nghĩ, Noãn không thể hiểu hết câu
nói đó, nhưng hai con mắt anh ta sáng rực lên như hai dòng điện chạy qua. Có
một điều tôi tin anh ta hiểu, câu nói đó như một giấy bảo đảm, anh ta sẽ mãi
mãi là một lực điền trong gia đình tôi.
Rồi một ngày ba tôi vắng nhà, Noãn được
chia công tác rửa khoai lang. Vùng tôi, nông nghiệp nghiệt ngã, vì đất đai và
thời tiết, nên không “chuyên canh” mà là “tạp canh”, các mùa phụ công việc
nhiều khi còn nặng nhọc hơn cả vụ mùa chính, khoai lang, một sản phẩm phụ của
nông dân. Khoai được đào lên, gánh về, rửa sạch cắt ra từng nhát mỏng phơi khô,
đó là thức ăn phụ trong những ngày tháng dài mùa Đông. Một phần dùng nuôi heo.
Noãn gánh khoai ra cái ao trước cánh
đồng, anh ta nhặt những củ khoai lớn, dìm xuống bùn đáy ao, tối đến, cả xóm ngủ
say, anh vớt lên, gánh về để đầy nhà. Một hôm, xui cho Noãn, chưa kịp lấy, có
một nông dân đi bắt ếch, lội xuống ao, dậm phải mấy củ khoai, rồi vớt lên cả
gánh khoai dưới đáy hồ. Người nông dân gọi mẹ tôi đến và bảo đây là khoai của
bà bị ăn cắp. Sáng hôm sau, mẹ tôi gọi Noãn vào, tính công và từ đó anh ta
không còn là một lực điền trong gia đình tôi nữa.
Mấy bữa sau, ba tôi về, ba tôi nói với
mẹ tôi: Mấy củ khóai đáng gì mà phải làm đến thế, tuy nói vậy, tính ba tôi thâm
trầm và dè dặt, việc gì đã qua, ông cho qua luôn, vả lại lúc bấy giờ, mẹ tôi là
người lo toan, xếp đặt mọi việc trong gia đình chúng tôi…
Nhàn cư vi bất thiện, từ khi Noãn ở nhà,
làng xóm bị mất trộm nhiều hơn, con gà, luống khoai, nhiều khi cả thúng lúa
trong chum của một nông dân nghèo, ai cũng nghi cho Noãn, nhưng chưa ai bắt
được quả tang.
Tuy nhiên, đi đêm thế nào cũng có ngày
gặp ma. Hôm đó, cố Trí, tiên chỉ của xóm, ra thăm ruộng mạ lúc trời chập choạng
tối, thấy Noãn vác bao bố vượt qua con đường cái quan, vào một ngõ tối và đi
lên triền đồi, cố Trí theo bén gót, thấy Noãn vào một nương sắn nhổ trộm, cố
Trí vào đánh thức vợ chồng chủ nhà dậy, căn dặn, đừng báo động sớm, để ông có
thì giờ trở lại lối về của tên trộm. Quả nhiên, nửa giờ sau, vợ chồng chủ nhà
tri hô lên, mọi người thắp đuốc, bắt trộm, Noãn từ hẻm tối chạy băng qua con
đường cái quan, bị cố Trí chặn lại, và nói, về luộc sắn mà ăn, mai lên xóm làm
việc.
Tuy chỉ mấy củ sắn, nhưng mọi người đã
cho Noãn là đầu mối của các vụ mất trộm của xóm làng, nên anh ta phải nhận bản
án quá nặng, đuổi khỏi làng từ hôm đó.
Noãn đi khỏi làng, gia nhập một toán ăn
trộm làng bên, toán này cả thảy bảy người, nửa ăn trộm, nửa ăn cướp. Vào ăn
trôm của nhà giàu, nếu bị phát giác, dùng cả vũ lực để lấy lúa gạo, có khi gây
thương tích cho cả chủ nhà.
Một ngày, gia đình tôi đang có bữa tiệc
đãi khách, Noãn xuất hiện, ba tôi gọi người làm bảo cho Noãn xuống nhà dưới ăn
cơm và biếu gạo, nhưng Noãn không đi và muốn gặp ông chủ, ba tôi ôn tồn hỏi:
- Có gì không anh Noãn?
- Dạ, thưa ông chủ, tối mai, toán ăn
trộm tám người sẽ vào nhà ông, con can mãi họ không nghe, mất dăm bảy bao lúa
không sao, nhưng con sợ chúng làm ẩu, đụng đến ông và gia đình, nên con đến để
báo với ông!
Mặt ba tôi trầm xuống, nhưng rất ôn tồn,
nói hai chữ cám ơn rất nhỏ.
Một trong những thực khách hôm đó, Đội
Châu, con rể của một ông bác họ, đi lính khố xanh trong tỉnh về nghĩ phép, sáng
hôm sau, ông ta lên Huyện mướn một toán lính về bao vây, bắt cả tám người,
trong đó có Noãn. Ba hôm sau, ba tôi lên Huyện để lãnh Noãn ra, nhưng mọi sự đã
trể, cả toán bị giải lên tỉnh từ hôm trước.
Dạo đó cho đến mãi về sau, không ai nghe
tin tức gì về Noãn nữa.
Sau năm 1945, nghe nói, Noãn đi bộ đội,
rồi lại nghe tin đồn, Noãn, lúc ở tù, cùng giam chung với Lê Hồng Cơ, em họ Lê
Hồng Phong, ông này dạy quốc ngữ cho Noãn, và truyền cho lý luận cách mạng, nên
bây giờ là cán bộ tại Liên Khu Bốn, Thanh Hóa. Đây chỉ là tin đồn thôi, vì làng
tôi chẳng ai gặp lại Noãn sau năm 1945.
2. Năm 2001, 46 năm, sau ngày tôi bỏ làng ra đi, 57 năm, sau khi
Noãn bị bắt, tôi trở lại thăm Giáo xứ Tân Thành, Hà Tĩnh, tôi nghe Chú Khoa,
người em họ cũng là ông Trùm của giáo xứ, nói đến một họ đạo mới, mang cái tên
họ Chợ Lù. Người lập nên họ đạo mới là ông Trùm Noãn. Và được người ta kể lại
phần hai cuộc đời ông Trùm Noãn như sau:
*
Sau những năm đi kháng chiến chống Tây,
Noãn trở về hưu trí tại làng Chợ Lù, lúc này ông ta chửng chạc, rất có uy tín
với cán bộ địa phương và dân chúng vùng này, Noãn mở một quán ăn bên quốc lộ số
một, đầu làng.
Một buổi tối đang ngủ, trong một thị
kiến, ông ta thấy một cụ già đến bên giường và đánh thức Noãn dậy, cụ già ôn
tồn hỏi:
- Con còn nhớ ta không?
Noãn dụi hai con mắt một lúc, rồi nhận
ra và nói:
- Thưa cha con nhớ ra rồi, ngày xưa con
đi chăn bò của cha.
- Nhớ thì tốt, ông cụ nói thêm, ngày
mai, cháu ta, một linh mục đói rét đi qua đây, con hãy cho cháu ta một bữa ăn!
Nói đến đó ông cụ biến mất, Noãn thức
giấc giữa cơn bàng hoàng… Giấc mơ mà rõ ràng như giữa ban ngày.
Sáng hôm sau, Noãn giết một con gà, làm
một bữa cơm và ngồi chờ. Mãi đến ba giờ chiều, một ông cụ mặc bộ áo nâu sồng,
ngoài khoác một chiếc áo bông trấn thủ đã rách, chân đi dép, đầu đội chiếc nón
cối bộ đội, vai mang một cái xắc mầu nâu thẩm, đi với ông, có một chú khoảng
17, 18 tuổi gánh hai cái tráp vuông nhỏ. Hai người mua hai bát nước chè nóng để
uống.
Noãn bước ra vòng tay lễ phép thưa:
- Thưa bác, có phải bác là một linh mục
không?
Ông cha do dự, nhưng cuối cùng phải xác
nhận mình là một linh mục. Thời điểm này, tôn giáo đang ở thế rất lép vế, tìm
ra một ông linh mục khó hơn tìm một hạt sương giữa buổi trưa hè oi ả. Một dãy
hành lang từ cuối núi Hồng Lĩnh cho tới vùng sơn cước Hà Tĩnh, có bốn giáo xứ,
Tiếp Võ, Cử Lâm, Tràng Đình và Tân Thành, chạy dài gần 30 cây số chỉ có một
linh mục. Nhiều khi các giáo dân trong các họ đạo cũng chẳng biết mặt cha xứ,
huống chi là người không phải Công Giáo.
Noãn ân cần, mời cha vào một căn phòng
ấm cúng hơn và dọn bữa cơm lên bàn. Cha đứng dậy từ chối, và nói, chúng tôi chỉ
mua hai bát chè tươi, uống cho đỡ lạnh, cơm tối chúng tôi sẽ đến giáo xứ Tân
Thành và ông Trùm sẽ nấu cho chúng tôi.
Noãn nói:
- Thưa cha, bữa cơm này có người đặt nấu
từ tối hôm qua.
Cha nghi ngờ và trả lời:
- Làm gì có, cả tháng nay tôi không liên
lạc với ông Trùm xứ, chắc gì hôm nay ông biết tôi đến giúp giáo xứ?
- Thưa cha, người đặt bữa ăn này không
phải ông Trùm hay bất cứ ai, mà chính cha già Hạp, trước năm 45, con chăn bò
cho cha già. Hồi đêm, cha già về nói với con, cháu tôi, một linh mục sẽ đến
quán này hôm nay, do đó con chờ cha từ sáng sớm.
Lúc này vị linh mục hoang mang đến cực
độ, cha già Hạp, bác ruột ngài thiệt, nhưng đã chết từ năm 1946, lúc đó linh
mục mới 7, 8 tuổi gì đó. Thị kiến nào, để một ông già không quen biết nói lên
câu nói vừa rồi. Vị linh mục đành phải ngồi xuống ăn bữa ăn trong hoang mang
với câu chuyện hoang đường mà ông chủ quán nói ra lúc vừa gặp gở. Tuy nhiên,
trong bữa ăn, vị linh mục nhận thấy một tấm lòng chân thành và dễ mến nơi ông
chủ quán. Cuối cùng, cả ba cha con đội trời mưa gió, đi về giáo xứ Tân Thành
trong đêm hôm khuya khoắt.
Đêm hôm đó hai cha con tâm sự suốt cả
đêm, ông Noãn thú nhận với vị linh mục, ông đã bỏ đạo mấy chục năm nay, ông
muốn trở lại một tín đồ ngoan đạo. Vị linh mục nói, cái tâm của ông, đã gìn giữ
ông không xa con suối ơn nghĩa Chúa trong suốt cuộc hành trình của đời ông. Lúc
này là cơ hội cho ông hội nhập vào nguồn suối cứu độ, để đi vào biển hằng sống
vĩnh cửu.
Giáo xứ Tân Thành lúc này, nhà thờ chỉ
là túp lều lợp tranh, dựng lên trên nền nhà thờ cũ bị bom B52 tàn phá trong
cuộc chiến vừa qua. Không phên, không tường, gió lồng bốn phía. Nhà xứ là một
góc lều dúm dó, vây lại. Hai cha con ngồi bên bếp lửa suốt đêm, kể cho nhau
nghe bàn chân đi giữa cuộc đời đầy hận thù và đầy yêu thương. Ở đâu có hận thù
đến tàn phá, ở đó có tình thương đến bù đắp và xây dựng. Tình thương giống như
những giọt nước tìm về, chảy xuống những chỗ trủng, khỏa lấp và san bằng… Hận
thù mang cương tính, tình thương mang nhu tính, mới nghĩ tưởng là tương khắc
nhau, nhưng cuối cùng là bù đắp cho nhau, như âm với dương, như cộng với trừ…
Ông Noãn ở lại tham gia tuần cấm phòng
của giáo xứ. Suốt cả tuần lễ, những lúc rảnh rỗi, ông đi khắp vùng, để ghi nhớ
lại những kỷ niệm thủơ thơ ấu. Ông đến viếng thăm mảnh vườn ông chủ mà ngày xưa
Noãn là một lực điền cày ruộng. Ở đó, mảnh vườn rộng rãi giờ đây đã chia năm sẻ
bảy cho các nông dân canh tác, duy chỉ còn cái bể cạn duy nhất còn đó, cái bể
cạn mà ông đã kín hằng chục gánh nước đổ vào trong những đêm trăng mùa hè thanh
tĩnh, một vài cây kè (tro) xác xơ tiêu điều còn đó. Noãn nghĩ đến gia đình ông
chủ, bây giờ họ ở đâu? Những ai đã vĩnh viễn ra đi, những ai còn lại trên mặt
đất, vinh quang hay tủi nhục, họ có nhớ đến chốn này năm xưa hay không? Có nhớ
đến tên lực điền cày ruộng cho họ ngày xưa hay không? Cách mạng và đấu tranh,
đổi thay được những gì cho con người nơi đây? Bát cơm sao mà hiếm thế? Bao tử
trông nhỏ, sao mà lớn thế? Đổ vào mấy cũng chẳng bao giờ đầy.
Sau một tuần lễ, trong bữa ăn, gồm cha
xứ, ông trùm, một số chức sắc của giáo xứ và một toán thanh niên trẻ, Noãn đề
ra công tác xây đựng ngôi thánh đường mới, mọi người mĩm cười trong im lặng. Vị
linh mục nghĩ, lại một câu chuyện hoang đường của ông già Noãn nữa đây. Thật
vậy, không tiền bạc, không có vật liệu, dù là vật liệu xây cất tối thiểu, giáo
dân sau chiến tranh, chỉ còn lại hai bàn tay trắng và những con mắt sâu hoẳm
nhìn xuống và nhìn nhau, không có nổi hai bữa cơm khoai hằng ngày. Nói đến xây
dựng thánh đường lúc này, là một câu chuyện hoang đường hơn câu chuyện thị kiến
một ông già, đêm hôm khuya khắt, thức Noãn dậy xin một bữa ăn cho một linh mục
qua đường! Nhưng cuối cùng, Noãn đã gieo vào lòng mọi người một tia hy vọng,
nhất là đám thanh niên trẻ nhiệt thành. Và, thực ra, Noãn chỉ cần chừng đó
thôi, Noãn nói: Làm nhà thờ, cần nhất là gỗ, con đã có trong tay, gỗ rất tốt.
Mọi người ngơ ngác, anh ta giải thích, khoảng năm cây số phía Tây Nam của giáo
xứ, trong dãy Rú Đò, có một khu rừng cấm của kiểm lâm, con đã có cách lấy được
gỗ đó về làm nhà thờ, chỉ cho con một toán thanh niên nhỏ và nhanh nhẹn thôi.
Con không đem gỗ về đây, con đã có chỗ dấu, chẳng những kiểm lâm mà mọi người
không ai biết được. Đây là câu nói đốt cháy nhiệt tâm của toán thanh niên trong
bữa ăn hôm đó. Bước thứ hai là tiền bạc mua vật liệu, con lo, con có cách lấy
tiền của những cán bộ không Công Giáo về xây nhà thờ, bước thứ ba là giấy phép,
con chạy được, câu chuyện hoang đường đã hình thành một ít hiện thực sau bữa ăn
tối hôm đó.
Ba tháng sau, họ đã có gỗ đầy đủ xây cất
nhà thờ, những toán thanh niên làm ban đêm, mọi sự chấm đứt trước 12 giờ trưa
vì đó là giờ kiểm lâm đi khám xét, gỗ cắt xuống, xẻ ra, mang dìm xuống sâu
trong những đầm nước và bùn ao tù rặc, chẳng những kiểm lâm, mà cả mọi người
không ai ngờ dưới đầm bùn đó là gỗ để xây cất nhà thờ.
Có gỗ, bước thứ hai, Noãn về làng bán
cái quán cơm, nhà cửa tài sản của Noãn, đem giao cho ông trùm cất giữ làm tin,
sau đó Noãn ra Thanh Hoá, và cả Hà Nội, tìm bạn bè ngày còn kháng chiến chống
Tây, bây giờ họ làm lớn và giàu có, ngửa tay mà cả cuộc đời Noãn chưa từng ngửa
tay với ai, nhất là trong giai đoạn làm cán bộ cách mạng kháng chiến chống xâm
lăng. Bạn bè không ai nỡ từ chối, vả lại, Noãn chả xin cho mình, mà xin cho một
tôn giáo, dù là tôn giáo xa lạ với bạn bè. Noãn trở về cả một ba lô bạc và dúi
vào tay ông trùm xứ. Bây giờ thì chẳng ai nói Noãn đang dẫn dắt họ đi trên con
đường hoang tưởng nữa.
Bước thứ ba là giấy phép, tuy trông đơn
giản nhưng nhiêu khê lắm. Giấy phép xây cất một nhà thờ trong một chế độ đang
muốn triệt phá mọi nhà thờ, cái nghịch lý là ở chỗ đó. Cái đơn giản mà không
đơn giản là ở chỗ đó. Ngôi nhà thờ cũ, bom B52 của Mỹ phá tan tành, nhưng thực
tế đó là chiến lược trong chính sách triệt hạ giáo đường Công Giáo của chế độ,
không có những đoàn xe 18 bánh của nhà binh đậu chung quanh nhà thờ, thì việc
gì B52 của Mỹ trút bom xuống? Điều này một đứa lực điền cày ruộng ngày xưa còn
hiểu được huống gì Noãn, ngày nay là một cán bộ cách mạng kỳ cựu chống xâm
lăng?!! Nhưng Noãn khôn lắm, bao nhiêu năm đi làm cách mạng, cách mạng đã dạy
Noãn, con người trong xã hội chủ nghĩa cũng chỉ là con người bình thường như
Noãn, con người có tình cảm và cũng nhỏ những giọt nước mắt trước một nghịch
cảnh như Noãn, có khác, tất cả chỉ là kịch sĩ, là diễn xuất của một kịch nghệ
trên sân khấu. Nhưng đã đóng kịch thì tất phải có hồi hạ màn, và Noãn chờ lúc
hạ màn, Noãn mới đến với họ.
Giấy phép của xã thì dễ, với uy tín của
Noãn, qua cầu như đi tản bộ, ở huyện cũng chẳng có gì khó, quen biết và uy tín
của một cán bộ kháng chiến chống Tây, họ không những là đàn em mà là con cái
của mình trong cách mạng chống Thực dân Pháp. Đến tỉnh mới khó, lúc này Hà
Tĩnh, Nghệ An còn chung làm một tỉnh. Tỉnh lị lại đóng tại thành phố Vinh, Nghệ
An, rất xa lạ với mọi người.
Bước cuối cùng của cái giấy phép làm
ngôi thánh đường, Noãn phải dùng đến cái trí đã học được trên con đường làm cán
bộ cách mạng xa xưa. Bước đầu để cho mấy ông Trùm xứ, quê mùa đem lá đơn lên
tỉnh xin gấy phép, họ lên tỉnh nhưng chỉ đến được vọng gác bên ngoài cửa ra
vào, mấy ông già khúm núm vào vọng gác tưởng là chỗ nộp đơn nên đưa đơn ra, mấy
chú lính canh thì tắc trách, thấy vậy nhận luôn những lá đơn, chẳng giải thích
gì cả. Mấy ông già hăm hở ra về, tưởng là đã nộp được lá đơn rồi, hai tuần sau,
Noãn bố trí một cán bộ huyện cùng đi hỏi về lá đơn xin làm nhà thờ giáo xứ Tân
Thành, mấy ông già chỉ cho người cán bộ huyện chỗ nạp đơn, hởi ôi, đây chỉ là
một trạm canh ở cổng cửa ra vào một công sở, mọi sự đã tạo thành câu chuyện
cười ra nước mắt. Nhưng rất may, sau một hồi bới tìm trong tập giấy, lá đơn còn
nằm đó, chỉ một chốc sau, câu chuyện hài hước đã truyền nhanh trong mọi phòng
sở của tỉnh Nghệ Tĩnh, giữa lúc đó Noãn xuất hiện, xuất hiện như một người
ngoài cuộc tình cờ vừa đến, Noãn hất hàm hỏi ông Tỉnh Ủy, ông nghĩ sao về mấy
chức sắc giáo xứ Tân Thành xin giấy phép làm nhà thờ? Biết ông ta còn do dự, Noãn
nói luôn, cho họ đi, Ông tỉnh ủy xem, mấy ông già quê mùa như thế, nạp lá đơn
còn nộp ở cổng gác, gỗ không có, tiền không có, họ làm được bao nhiêu cái nhà
thờ? Ông không cho thì mất mặt với chữ ký từ xã đến Huyện của địa phương, ông
cho, nhà thờ cũng chẳng làm được mà địa phương lại biết ơn Tỉnh Ủy. Thấy Noãn
nói có lý, và như thế bước thứ ba Noãn đã qua cầu. Hai năm sau nhà thờ Tân
Thành được hoàn tất như một phép lạ do bàn tay đạo diễn của ông Noãn. Chưa hết,
vật liệu dư thừa Noãn còn xây một nhà xứ cho cha có chỗ đi và về mỗi lần thăm
viếng giáo đoàn.
Trong thời gian làm nhà thờ giáo xứ Tân
Thành, Noãn khám phá ra một ngọn đồi mà thủơ nhỏ anh chăn bò, hãy còn bỏ hoang,
đất đai phì nhiêu, anh lên huyện xin lập một khu di dân, anh về làng Chợ Lù,
tìm những gia đình nghèo, cần cù nhưng vẫn không thể nào vượt qua được hoàn
cảnh nghiệt ngã, Noãn giúp đỡ di cư lên ngọn đồi lập nghiệp. Hầu hết sau này họ
theo Công Giáo và lập nên một họ đạo của xứ Tân Thành, Noãn là ông Trùm đầu
tiên của họ đạo này.
Một ngày, Trùm Noãn nằm xuống và không
có cơ may trở dậy nữa, cha xứ nghe tin, đưa Mình Thánh Chúa đến, cho ông Trùm
Noãn chịu các phép cuối cùng của một tín đồ Thiên Chúa Giáo. Linh mục nắm bàn
tay khẳng khiu của Trùm Noãn và nói:
- Ông Trùm, tôi nghĩ, ông đã biết, nhưng
tôi phải nhắc lại. Ngày xưa, trong một thị kiến, một cụ già đến đánh thức ông
trùm dậy trong đêm hôm khuya khoắt, để ông sửa soạn một bữa ăn cho một linh mục
qua đường. Thật sự không phải bữa cơm gà ông cho tôi ăn hôm ấy, bữa ăn của ông
là ngôi thánh đường ông đã bỏ tâm huyết xây đựng nên, kể cả những phiến gỗ ông
lấy trộm từ khu rừng cấm Kiểm Lâm, những mánh khóe lúc ngồi rình sau hè người
hàng xóm để bắt trộm một con gà, ông đã đem ra áp dụng tại tòa hành chính tỉnh
Nghệ An, để vận động cho giáo xứ Tân Thành một giấy phép xây đựng ngôi thánh
đường, ngôi nhà xứ tôi đang ở, họ đạo nơi đây, trên 400 bổn đạo đang hướng về
ông như một cái tim của ngọn đèn đang cháy. Xa hơn nữa, cuộc sống canh tân và
hoà giải cả cuộc đời ông. Tất cả, tất cả là bữa ăn của ông đã dọn ra cho bổn
đạo vùng này, nối tiếp công cuộc của Đấng Cứu Thế mấy ngàn năm trước đây. Những
gì ông làm, là điều mà trong sách vở gọi là công việc tông đồ giáo dân…
“Hòn đá người thợ loại bỏ ra, sẽ trở nên
viên đá của góc tường xây đựng tòa nhà Giáo Hội”. Ông chính là viên đá người
thợ đã loại ra.
Có một người nói với tôi, mấy chục năm
về trước, khi ông còn là một lực điền cày ruộng cho một ông chủ, ông ta đã có
nói với ông: “Cuộc đời anh là cả một dòng sông, phía mặt nổi có những lắt léo
của cuộc đời, nhưng phía đưới là một nguồn lực của lương tâm, cuồn cuộn chảy ra
biển cả mênh mông!!!”. Tôi muốn nói thêm vào đó một chút, không phải chỉ có
nguồn lực lương tâm của ông mới chảy vào biển cả mênh mông, mà những lắt léo
bên trên mặt nước cuộc đời của ông cũng chảy vào chốn mênh mông vĩnh hằng. Ta
nhân danh Thiên Chúa, mọi lắt léo của ông ở trần gian, Chúa đã tha thứ và ông
sẽ mang những thứ ấy đến trình điện Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ nhận lấy mặt đáy
của dòng sông cũng như Thiên Chúa vui vẻ nhận lấy mặt nổi của cuộc đời ông.
Chúa không đến với kẻ công chính, mà đến với người tội lỗi, ngày xưa Chúa đã
ngồi ăn với kẻ thâu thuế. Ông là kẻ thâu thuế của thời đại hôm nay, Chúa đã
dành cho ông một chỗ trong bữa tiệc hằng sống, hãy đến dự bữa ăn với Đấng Toàn
Năng. Chúng ta sẽ gặp nhau ở chốn vĩnh hằng vào một ngày gần đây.
Bàn tay ông Trùm tìm bàn tay vị linh mục
và hai giọt nước mắt chảy xuống trên gò má nhăn nheo của ông Trùm họ đạo.
Mấy ngày sau, Ông Trùm Noãn thanh thản
ra đi, giữa sự thương tiếc của giáo dân và họ đạo. Trên ba ngàn giáo dân đưa
linh cửu ông Trùm về lại ngôi thánh đường do ông bỏ tâm huyết xây dựng nên,
trên một chục linh mục cử hành thánh lễ, rồi người ta đưa ông trở lại mảnh đất
của họ đạo Chợ Lù, để ông an nghỉ ngàn năm. Cái nhà ông ở, bây giờ trở thành
ngôi nhà nguyện cho họ đạo Chợ Lù, ước mong cuối cùng của ông là trên mảnh đất
ông ở, sẽ có một nguyện đường nho nhỏ cho họ đạo tụ tập đến nguyện kinh buổi
sáng và buổi chiều khi mặt trời khuất trên ngọn đồi phía Tây của giáo họ.
3. Trên đường trở về Hoa Kỳ, tôi nhớ đến
cậu bé Noãn mồ côi cha mẹ, một chú tiểu chăn bò trong một đồn điền nhà chung,
một lực điền trong một gia đình phú địa, một nông dân ngồi sau hè rình bắt con
gà mái ấp của bác hàng xóm, một cán bộ cách mạng dũng cảm chống Thực Dân, Một
ông trùm họ đạo xã thân làm việc tông đồ giáo dân, tất cả, đó là mặt tầng và
đáy tầng của một dòng sông chảy ra biển cả mênh mông, vĩnh hằng. Tất cả được
“Create” bởi bàn tay Thiên Chúa, và những gì Thiên Chúa đã làm ra, con người
không thể đổi thay hay thay đổi. Tuy nhiên, cái tâm con người mới quyết định
tất cả. Tâm con người là con đường duy nhất đưa đến cứu rỗi cho mỗi người, mỗi
cá nhân, dù ở một tôn giáo nào cũng không ra khỏi quy luật đó. Cả cuộc đời ông
Trùm Noãn đã biến những việc làm nhỏ bé thành những công việc vĩ đại, biến
những việc làm mà thế gian cho rằng tội lỗi thành những việc làm tất nhiên của
lương tâm. Tất cả do cái tâm thúc đẩy bởi dòng sông cuộc đời của ông Trùm Noãn.
Cho đến lúc này, ngồi viết cuộc đời ông
Trùm Noãn, bao nhiêu câu hỏi đến với tôi vẫn tồn đọng, chưa được giải đáp thanh
thỏa. Một trong hằng ngàn đứa trẻ mồ côi, ở một xã hội nông nghiệp lạc hậu của
chế độ nô lệ, Noãn được một vị thừa sai, nhặt ra, đem về rửa tội, ném vào một
đồn điền nhà chung, chăn bò. Cái lối truyền giáo, nửa Thực Dân, nửa Tông Đồ,
của một ông cố Đạo như thế, thử hỏi, lúc nào và ở đâu, mầm mống đức tin quyết
liệt, nhiệm nhặt gieo vào con người ông Trùm Noãn, để đến khi buông tay cuộc
đời, có đến ba ngàn người thương tiếc tiễn đưa?! Câu thành ngữ áp đặt lên cuộc
đời ông Trùm Noãn, “Trộm vặt như Noãn” tự đâu mà có? Tự bẩm sinh con người sinh
ra hay do sự chèn ép trong một xã hội nửa Phong Kiến nửa Thực Dân?! Mấy củ
khoai đạp xuống bùn, đáy ao, để mất việc, một công việc nửa nô lệ nửa làm thuê,
phải chăng đây là động lực thúc đẩy Noãn ngồi sau hè bác hàng xóm bắt một con
gà mái ấp?!
Đọc đến đây, độc giả đừng nghĩ tôi đang
làm một công tố viện, buộc tội ba má tôi? Không, không bao giờ, tôi sinh ra
trong một gia đình Khổng Mạnh! Tôi muốn làm rõ ràng cái gì đã xẩy ra trong thế
kỷ 20, thế kỷ mà tôi đã bỏ hầu như trọn vẹn cuộc đời đầu tư vào đó, nhưng cuối
đời vẫn nhận thấy lắm điều còn thao thức, chưa phân minh!
Một vài củ sắn, trong cái bao bố làm
tang chứng, Noãn phải đuổi khỏi làng ra nhập vào toán trộm cắp, vì sống trong
một xã hội “Phép vua thua lệ làng”. Chịu một bản án do định kiến hơn là tội
phạm, thế mà anh đã cố đứng thẳng con người lên, trở về báo cho ông chủ đuổi
việc, tối nay, toán cướp sẽ đến nhà ông! Cả cuộc đời từ thơ ấu đến lúc trở nên một
lực điền, lúc nào và ở đâu, ai dạy Noãn, đứng lên làm con người ngay thẳng giữa
những con người định kiến?! Một thị kiến vu vơ, hoang đường trong một giấc ngủ,
Noãn đã cởi bỏ chiếc áo huy hoàng phù du của một chiến sĩ cách mạng chống xâm
lăng, trở về, làm một ông trùm họ đạo, giúp đỡ bao nông dân, nghèo khổ, lầm
than, để mọi người trong họ đạo nhìn Trùm Noãn như một tim đèn soi sáng cho cả
họ đạo trong đêm tối chơ vơ, lạnh lùng! Đem mánh khoé một tên đạo chích ăn cắp
gỗ kiểm lâm trên rừng về xây dựng nhà thờ. Có bột mới gột thành hồ, đàng này,
Noãn không có bột mà chẳng những làm nên hồ, mà còn làm thành nồi cơm cho Giáo
Hội và cộng đoàn giáo xứ Tân Thành! Noãn, con người, một tay “lựa gió phất cờ”,
tay khác, đứng lên đổi hướng đi tới làm một con người công chính giữa một xã
hội loài người tha hoá, trước khi làm một ông thánh bà thánh ở chốn Vĩnh hằng!
Vì đâu?! Vì đâu mà có cuộc đời như Trùm Noãn?!
Khi ngồi viết câu chuyện ông Trùm Noãn,
tôi không hề viết cho ông, vì lúc này ở một nơi nào đó, ông Trùm Noãn cũng
chẳng cần thiết ai viết và viết những gì về cuộc đời ông! Viết cho tôi? Cũng
chẳng cần thiết, vì chẳng còn bao lâu nữa tôi cũng sẽ ra đi và mong sẽ được đến
nơi chốn mà ông Trùm Noãn đang thảnh thơi!!! Tôi chỉ muốn viết cho những thế hệ
đến sau tôi, những thế hệ gọi là con cháu tôi, để họ biết rằng cha ông họ đã có
những kiếp sống bất hạnh ở vào thế kỷ 20. Những danh từ nghiệt ngã như, nô lệ,
thực dân, phong kiến, cách mạng, đấu tranh, chính trị, chủ nghĩa, ý thức hệ,
chiến tranh… tất cả những danh từ nghiệt ngã đó như những thác nước trút ngập
lên đầu chúng tôi, áp đặt lên cuộc đời bất hạnh chúng tôi, ở thế kỷ vừa mới qua
đi của lịch sử nhân loại.
